vanban.org

Bản án 0718/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tăng Thị Hồng X và ông Hồ Ngọc L tự khai không có. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Bà Tăng Thị Hồng X phải chịu. Nay được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Tăng Thị Hồng X đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí tòa án số … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa Bà Tăng Thị Hồng X và ông Hồ Ngọc L"
  • Tòa quyết gì? Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN PHÚ NHUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 0718/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 16/10/2019
V/v lyhôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Xuân Thảo

2. Bà Nguyễn Phạm Bích Ngân

- Thư ký phiên tòa:Bà Phạm Thanh Hà-Thư ký Tòa án nhân dân quận PN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận PN tham gia phiên tòa:

Bà Võ Nam Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 284/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/9/2019, và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25/9/2019 giữa các đương sự:

1.N đơn: Bà Tăng Thị Hồng X, sinh năm 1976

Địa chỉ: 72A/22B G, Phường P, Quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Hồ Ngọc L, sinh năm 1960

Địa chỉ: 72A/22B G, Phường P, Quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/4/2019 và trong quá trình xét xử N đơn bà Tăng Thị Hồng X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tăng Thị Hồng X và ông Hồ Ngọc L sau thời gian tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào năm 1998 tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, tuy nhiên cuộc sống vợ chồng ngày càng xảy ra mâu thuẫn, cứ thế thời gian trôi qua không biết từ khi nào giữa bà X và ông L trở thành hai người xa lạ sống chung một ngôi nhà, nhiều bất đồng quan điểm sống quan điểm hạnh phúc, khi ngồi lại với nhau thì hay thích mích cải vả nhau, khoảng vào năm 2017 ông L có xô xát qua lại với bà X vì hai bên có lời qua tiếng lại, nay mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay giữa bà X và ông L đã có cuộc sống riêng chỉ tồn tại tư cách vợ chồng trên giấy tờ, hai người đã sống ly thân gần một năm nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên bà Tăng Thị Hồng X yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Hồ Ngọc L. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 03con chung gồm có: 1. Anh Hồ Hải N, sinh ngày 1995 đã trưởng thành; 2. Anh Hồ N C, sinh ngày 1997 đã trưởng thành; 3. Em Hồ C T, sinh ngày 04/01/2004, bà X thống nhất đồng ý để cho ông Hồ Ngọc L là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Hồ C T đến đủ 18 tuổi, về cấp dưỡng nuôi con ông L và bà X tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản và nợ chung: Bà X tự khai không có. Theo bản tự khai, biên bản hòa giải cùng ngày 18/6/2019 bị đơn ông Hồ Ngọc L trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà X về thời gian kết hôn, thời gian chung sống. Cuộc sống vợ chồng ông rất yêu thương vợ và các con nhưng trong cuộc sống không ai hoàn hảo, bản thân ông thừa nhận giữa hai vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn vợ chồng xẩy ra từ ngày 14/02/2019 khi ông quay trở về Quảng Ngãi để chăm sóc cho mẹ già đã lớn tuổi, khi ông quay trở lại Sài Gòn thì bà X đã tự động chuyển về sinh sống cùng cha mẹ đẻ và chính thức giữa hai ông bà ly thân từ đó. Nay bà X không còn tình yêu, tình nghĩa vợ chồng và nhất quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông. Bản thân ông có nguyện vọng đoàn tụ gia đình và mong muốn bà X hãy suy nghĩ lại và rút đơn ly hôn. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 03 con chung gồm có: 1. Anh Hồ Hải N, sinh ngày 1995 đã trưởng thành; 2. Anh Hồ Nguyên C, sinh ngày 1997 đã trưởng thành; 3. Em Hồ Cát T, sinh ngày 04/01/2004. Trường hợp ly hôn ông Hồ Ngọc L có nguyện vọng là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Hồ Cát T đến đủ 18 tuổi, về cấp dưỡng nuôi con ông L và bà X tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản và nợ chung: Ông L tự khai không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án tiếp theo thì ông L cố tình vắng mặt không đến Tòa án mặc dù Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật như: Tiến hành niêm yết công khai thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa.

Tại biên bản xác minh và ghi nhận sự việc ngày 15/7/2019 của Tòa án nhân dân quận PN với đại diện Tổ trưởng tổ 10, khu phố 1 đường G, Phường P, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trong quá trình chung sống vợ chồng, ông L tính tình nóng nảy hay la lối, chửi vợ và các con trong nhà, ít quan tâm đến gia đình, có quan hệ với lối xóm không hòa đồng, ít giao lưu với hàng xóm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận PN phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

+ Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung, giao em Hồ Cát T cho ông Hồ Ngọc L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, về cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận; về tài sản và nợ chung cả bà X, ông L tự khai không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Tăng Thị Hồng X khởi kiện yêu cầu được ly hônđối với ông Hồ Ngọc L, ông Hồ Ngọc L có nơi cư trú tại số nhà 72A/22B G, Phường P, Quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dânsự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 116 quyển số 01/1998 ngày 18/12/1998 của Ủy ban nhân dân Phường P, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Hồ Ngọc L và bà Tăng Thị Hồng X thế hiện đây là hôn hợp pháp đúng pháp luật.

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa hai vợ chồng là phải yêu thương quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nhưng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà Tăng Thị Hồng X và ông Hồ Ngọc L không còn sự chia sẻ lẫn nhau dẫn đến nhiều mâu thuẫn phát sinh không thể khắc phục. Mặt khác tình cảm của bà X dành cho ông L không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà X yêu cầu ly hôn với ông L để ổn định cuộc sống là phù hợp với với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [3]Về con chung:Có 03con chung gồm có: 1. Anh Hồ Hải N, sinh ngày 1995 đã trưởng thành; 2. Anh Hồ Nguyên C, sinh ngày 1997 đã trưởng thành; 3. Em Hồ Cát T, sinh ngày 04/01/2004, bà Tăng Thị Hồng X và ông Hồ Ngọc L thỏa thuận giao cho ông Hồ Ngọc L là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và đây cũng là nguyện vọng em Hồ C T là phù hợp với Điều 81, 82 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận. [4]Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Tăng Thị Hồng X và ông Hồ Ngọc L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. [5]Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tăng Thị Hồng X và ông Hồ Ngọc L tự khai không có. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Bà Tăng Thị Hồng X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, 228 và Điều 232 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ và các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ vào Luật thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014); Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tăng Thị Hồng X: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Tăng Thị Hồng X đối với ông Hồ Ngọc L. Giấy chứng nhận kết hôn số 116 quyển số 01/1998 ngày 18/12/1998 của Ủy ban nhân dân Phường P, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Hồ Ngọc L và bà Tăng Thị Hồng X không còn giá trị pháp luật. 2. Về nuôi con chung: 2.1. Giao con chung em Hồ Cát T, sinh ngày 04/01/2004 cho ông Hồ Ngọc L là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi. 2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận việc bà Tăng Thị Hồng X và ông Hồ Ngọc L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tăng Thị Hồng X và ông Hồ Ngọc L tự khai không có.

4. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Bà Tăng Thị Hồng X phải chịu. Nay được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Tăng Thị Hồng X đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí tòa án số 0041775 ngày 22/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ