vanban.org

Bản án 07

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Bùi Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2]. Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 và điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo: Bùi Minh Đ 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Bùi Minh Đ cho Ủy ban nhân dân Phường 7, thàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bùi Minh Đức - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Bùi Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TßA ¸N NH©N D©N
Thµnh phè ®µ l
tØnh l©m ®ång

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

___________________
B¶n ¸n sè: 07/2020/HSST
Ngµy : 20/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ L, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông HOÀNG TRÌNH

+ Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông NGUYỄN MINH SƠN

2/. Ông PHẠM QUANG VINH

- Thư ký phiên tòa: Ông NGUYỄN VĂN ĐỒNG - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông PHAN MINH TRÍ - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 20 tháng 02 năm 2020. Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2020/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2020; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐ-HSST ngày 07 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: BÙI MINH Đ. Sinh ngày 07 tháng 4 năm 1987. Nơi sinh: Lâm Đồng. Nơi ĐKNKTT: Khu tập thể Trường Đ, Phường 7, thành phố Đ, Lâm Đồng. Chỗ ở: Khu tập thể Trường Đ, Phường 7, thành phố Đ, Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Nấu bếp. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông: Bùi Ngọc Đ, sinh năm 1957; Con bà: Tô Thị T, sinh năm 1962. Hiện ở tại: Khu tập thể Trường Đ, Phường 7, thành phố Đ, Lâm Đồng. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại Khu tập thể Trường Đ, Phường 7, thành phố Đ, Lâm Đồng. Có mặt.

Người bị hại:

Bà Đào Thị T, sinh năm 1956. Trú tại: 116 đường X, Phường 7, thành phố Đ, Lâm Đồng. Vắng mặt, ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc K, là Chủ tịch Hội đồng giáo xứ Tùng Lâm, Phường 7, thành phố Đ, Lâm Đồng, thay mặt dự phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 ngày 16/9/2019, Bùi Minh Đ đột nhập vào Trường mầm non Minh Đức tại số 116 - X, Phường 7, thành phố Đ, Lâm Đồng tìm tài sản để trộm cắp. Khi Đức đang lục tìm tài sản thì bị người dân chung quanh Trường phát hiện, bắt quả tang, giao cho Công an Phường 7, thành phố Đ, Lâm Đồng xử lý.

Quá trình điều tra, xác định trước đó, khoảng 19 giờ ngày 17/8/2019, Đức đi một mình, đột nhập vào Trường mầm non Minh Đức, sau đó chui qua cửa sổ phòng học, vào trong khuôn viên Trường. Đ đi dọc hành lang rồi vào phòng của bà Đào Thị T, tìm tài sản để trộm cắp. Đ phát hiện cửa tủ quần áo không khóa nên mở tủ thì phát hiện trong tủ có 01 túi xách, trong túi xách có nhiều tờ tiền với nhiều mệnh giá khác nhau, Đ lấy một số tiền bỏ vào túi quần của mình rồi đi ra khỏi Trường, đếm số tiền vừa trộm cắp được 13.000.000 đồng Việt Nam, 100 đô la Mỹ và 50 đô la Úc. Số tiền này Bùi Minh Đ đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận xác định giá số 644/KL-ĐG ngày 03/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng xác định: 01 tờ tiền mệnh giá 100 USD trị giá 2.377.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 50 AUD trị giá 798.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Bùi Minh Đ chiếm đoạt của bà Đào Thị T là 16.175.000 đồng. Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho bà Đào Thị T 15.000.000 đồng. Bà T đã nhận số tiền này và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, đồng thời làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 14/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Bùi Minh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Minh Đ khai nhận vào ngày 17/8/2019, bị cáo đã có hành vi lợi dụng ban đêm, Trường mầm non Minh Đức không có người bảo vệ, bị cáo đã đột nhập vào Trường, trộm cắp của bà Đào Thị T 16.175.000 đồng tiền mặt các loại đang để tại phòng làm việc trong Trường, đem về sử dụng cho nhu cầu cá nhân. Ngoài ra, trước đó, vào ngày 08/8/2019 bị cáo cũng đã một lần đột nhập vào Trường mầm non Minh Đức và lấy trộm được 500.000 đồng của bà Đào Thị T và đến ngày 16/9/2019 bị cáo đột nhập vào Trường mầm non Minh Đức lần thứ 3, nhưng chưa lấy được gì thì bị phát hiện, bắt giữ, bị cáo thừa nhận đã thực hiện các hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng và không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Minh Đ đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai của người bị hại, không có nội dung gì thay đổi, hành vi của bị cáo thực hiện việc lén lút chiếm đoạt tài sản là tiền mặt, trị giá 16.175.000 đồng, có đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 và điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Bùi Minh Đ từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Phần bồi thường: Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho người bị hại 15.000.000 đồng, hiện nay người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Bị cáo, đại diện người bị hại không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Minh Đ:

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rất rõ việc lợi dụng người bị hại mất cảnh giác và chủ quan trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút để chiếm đoạt tài sản là tiền mặt trị giá 16.175.000 đồng với mục đích để sử dụng cho nhu cầu cá nhân, là hành vi trái pháp luật, xâm hại trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Bùi Minh Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm đối với bị cáo được qui định tại điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng truy tố và Kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo không vi phạm vào tình tiết định khung tăng nặng nào theo qui định tại điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo chỉ bị xét xử theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt nào theo qui định tại điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, sau khi bị phát hiện đã bồi thường cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt qui định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt, có nơi cư trú rõ ràng và có công việc làm ổn định. Xét chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể áp dụng qui định tại điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng có điều kiện giáo dục và cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường phần lớn thiệt hại về tài sản cho người bị hại. Số tài sản còn thiếu, đến nay người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét để giải quyết phần trách nhiệm dân sự đối với người bị hại trong bản án này.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Bùi Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2]. Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 và điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo: Bùi Minh Đ 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Bùi Minh Đ cho Ủy ban nhân dân Phường 7, thành phố Đ, Lâm Đồng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, bị cáo có trách nhiệm phải thực hiện các nghĩa vụ đối với người được hưởng án treo theo qui định tại Luật thi hành án hình sự. Nếu bị cáo cố ý vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ từ 02 lần trở lên, bị cáo có thể sẽ bị Tòa án ra Quyết định không cho hưởng án treo nữa mà buộc phải chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo tại Trại giam.

[3]. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về lệ phí, án phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ