vanban.org

Bản án 07/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Rmah S.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B tỉnh Gia Lai. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, cơ quan đề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Rm S"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Rmah S.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/QĐ-TAGia Lai, ngày 22 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Dương Nam Anh C.

2. Thư ký phiên họp: Bà Tào Thị Mỹ H.

Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân Khu vực 11 - tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 06/QĐ-TA ngày 15 tháng 4 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Rmah S (tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam.

Sinh ngày 20 tháng 6 năm 2004.

Căn cước công dân số: 064204013847

Dân tộc: Gia Rai.

Tôn giáo: Không.

Quốc tịch: Việt Nam.

Trình độ văn hoá: 03/12.

Nguyên quán: xã I, tỉnh Gia Lai.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã I, tỉnh Gia Lai.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 – Ngày 11/8/2025, Công an xã I ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Con ông Rmah B và bà Rmah H.

R vắng mặt tại phiên họp (Có đơn xin vắng mặt).

Có sự tham gia của:

1. Người đề nghị: Ông Nguyễn Quang Đ – Trưởng Công an xã I, tỉnh Gia Lai. Ông Nguyễn Quang Đ có văn bản ủy quyền cho ông Vũ Văn V, phó trưởng công an xã tham gia phiên họp theo Giấy ủy quyền số 649/GUQ-CAX ngày 21/4/2026. Có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - tỉnh Gia Lai: Bà Đậu Thị Thanh Xuân – Kiểm sát viên. Có mặt.

3. Người phiên dịch tiếng Gia Rai: Ông Siu Thun P; Địa chỉ: Thôn P, Xã C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính thể hiện:

Rmah S là đối tượng nghiện ma túy, có nơi cư trú tại thôn P, xã I, tỉnh Gia Lai và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn xã I, tỉnh Gia Lai.

Rmah Se bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy H1 và ma túy đá từ đầu năm 2024 bằng hình thức tiêm chích và hút, trung bình 02 ngày Rmah S sử dụng 01 lần. Ngày 07/8/2025, Rmah S bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy tại thôn P, xã I, tỉnh Gia Lai nên ngày 12/8/2025, Ủy ban nhân dân xã I đã ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 445/QĐ-UBND đối với Rmah Se với thời hạn 01 năm. Tuy nhiên, trong thời gian bị quản lý, Rmah S tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Lần gần nhất Rmah Se sử sụng ma túy là ngày 20/3/2026 tại khu vực thôn P, xã I, tỉnh Gia Lai.

Ngày 02 tháng 4 năm 2026, Công an xã I, tỉnh Gia Lai đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Rmah S về hành vi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.

Tại Công an xã I, tỉnh Gia Lai, Rmah S đã thừa nhận hành vi vi phạm của mình. Ngày 24 tháng 3 năm 2026, Trạm y tế xã Ia Le kiểm tra đã kết luận Rmah S có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là M, Methamphetamine.

Tại phiên họp, Trưởng Công an xã I, tỉnh Gia Lai đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Gia Lai xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là Rmah S với thời hạn 18 tháng.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Gia Lai đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Rmah S thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Rmah S:

Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị đầy đủ, được lập đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; và Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Rmah Se: Thời điểm gần nhất Rmah S có hành vi sử dụng ma túy là ngày 20/3/2026 tính đến thời điểm mở phiên họp, thời hiệu xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với vẫn còn theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về đối tượng áp dụng: Rmah Se là người nghiện ma túy, trên 18 tuổi, có nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay tại thôn P, xã I, tỉnh Gia Lai có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên Công an xã I, tỉnh Gia Lai lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Rmah S là có căn cứ, được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.

. Về thẩm quyền: Trưởng Công an xã I, tỉnh Gia Lai lập hồ sơ đối với Rmah S là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính, sửa đổi bổ sung năm 2020 và Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

. Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Rmah S: Thực hiện theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

Qúa trình làm việc tại Công an xã I, tỉnh Gia Lai, Rmah S thừa nhận hành vi sử dụng trái phép ma túy từ đầu năm 2024 và lần gần nhất sử dụng ma túy ngày 20/3/2026. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy số 26/PXĐ-TYT ngày 24/3/2026 của Trạm y tế xã I xác định Rmah Se có nghiện ma túy loại Morphin và M1. Việc xét nghiệm xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Rmah S là hoàn toàn khách quan, đúng quy định tại Điều 6, Điều 96 và Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó, ý kiến của Trưởng Công an xã I, tỉnh Gia Lai và Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Gia Lai đối với R là có căn cứ, cần xem xét.

. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hành chính:

Xét thấy tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Nhận thấy, Rmah S không chịu lao động, học tập, rèn luyện để trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội, mà ăn chơi, hưởng thụ không lành mạnh, nghiện ma túy. Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Rmah S một thời gian nhất định theo quy định tại Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính để được giáo dục, cai nghiện sớm trở thành người dân lương thiện, có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa.

R không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính. Quá trình lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Rmah S đã tự nguyện khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính là “tự nguyện khai báo” quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính, sửa đổi bổ sung năm 2020.

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; các Điều: 95; 96; 103; 104; 105; 107; 108 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính, sửa đổi bổ sung năm 2020;

Căn cứ Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy;

Căn cứ Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ;

Căn cứ vào các Điều 2, 3, 12, 17, 18, 21, 23, 24, 25, 31, 32 và 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH 15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ Điều 5, Điều 6, Điều 6 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Rmah S.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B tỉnh Gia Lai.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án; người bị đề nghị, người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã I, tỉnh Gia Lai.

Cỡ chữ