vanban.org

Bản án 07/HSST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tăng Ngọc Bảo A phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Xử phạt bị cáo Tăng Ngọc Bảo A 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tăng Ngọc Bảo A phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tăng Ngọc Bảo A phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2017/HSST.
Ngày: 11/01/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thái Thục Hiền

2. Ông Đoàn Văn Rỹ

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuyền, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức

Khuê, Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 363/2017/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 445/2017/HSST-QĐ ngày 29/12/2017 đối với bị cáo:

Tăng Ngọc Bảo A; Sinh năm: 1986; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Hộ

khẩu thường trú: 87/8A C, phường W, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Phòng trọ D8 nhà số 125/49A L, Phường W, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tăng Ngọc N (Chết) và bà Nguyễn Thị U (Sinh năm: 1956); Vợ con: chưa có; Tiền án: Ngày 07/01/2010, bị Công an Quận 2 bắt về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 25/6/2010, Tòa án nhân dân Quận 2 xét xử tuyên phạt 10 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/9/2016 (Bản án số: 59/2010/HSST); Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/3/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 ra Quyết định đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 30/5/2017, chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Cư Trinh ra Quyết định hủy bỏ Quyết định trên do Tăng Ngọc Bảo Anh có nơi cư trú ổn định; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/8/2017 cho đến nay (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Ngô Bảo A, sinh năm: 1989; Hộ khẩu thường trú: 213 C, phường C, Quận

W, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

2. Ông Trần Ngọc Q, sinh năm: 1943; Hộ khẩu thường trú: 115 Lô H, Chung cư N,

Phường E, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

3. Ông Trần Ngọc Anh Q, sinh năm: 1971; Hộ khẩu thường trú: 115 Lô H, Chung

cư N, Phường E, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ ngày 14/8/2017, tại trước số 301 L, phường W, Quận A, Đội Cảnh

sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8 nghi vấn Trần Ngọc Anh Q đang điều khiển xe gắn máy biển số 59U1-404.31 chở Tăng Ngọc Bảo A có liên quan đến ma túy nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. A ném từ trên tay xuống đất 01 gói nylon chứa ma túy thì bị Công an Quận 8 phát hiện thu giữ, tạm giữ của A 01 điện thoại di động Iphone gắn sim số 0933337091 và số tiền 2.500.000 đồng, tạm giữ của Q 01 xe gắn máy biển số 59U1-404.31. Vụ việc được đưa về trụ sở Công an phường 2, Quận 8 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó chuyển giao đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 điều tra làm rõ.

Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 14/8/2017, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy

Công an Quận 8 thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tăng Ngọc Bảo A tại phòng trọ D8 nhà số 125/49A L, phường R, Quận A, thu giữ dưới sàn nhà tầng trệt gồm:

- 03 gói nylon chứa ma túy tổng hợp, gồm 01 gói lớn và 02 gói nhỏ.

- 01 cân tiểu ly hiệu “Amput”.

- 03 cây kéo.

- 01 bình nhựa có gắn ống hút và ống thủy tinh trên đầu.

- 01 hộp quẹt.

- 10 gói nylon rỗng kích thước 1x2cm.

- 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Luvias biển số 59F1-323.29.

Theo bản kết luận giám định số 1419/KLGĐ-H ngày 28/8/2017 của Phòng kỹ thuật

hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Gói: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký

ghi tên Tăng Ngọc Bảo A và hình dấu Công an phường 2, quận 8 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,4611g (bốn phẩy bốn sáu một một gam), loại Methamphetamine.

Gói: Tinh thể không màu trong 03 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký

ghi tên Tăng Ngọc Bảo A và hình dấu Công an phường 1, Quận 8 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 5,0051g (năm phẩy không không năm một gam), loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Tăng Ngọc Bảo A, Trần Ngọc Anh

Q khai nhận: Do cần tiền tiêu xài nên A thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/8/2017, một thanh niên (không rõ lai lịch) dùng số điện thoại 0120.335.7419 gọi đến số 0933337091 của A hỏi mua 01 gói ma túy tổng hợp giá 1.800.000 đồng, A đồng ý bán và hẹn giao ma túy tại trước Bệnh viện phục hồi chức năng điều trị bệnh nghề nghiệp số 313 L, phường W, Quận A. A gọi đến số 0120.577.3848 của người phụ nữ tên bé H (không rõ lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy tổng hợp giá 1.500.000 đồng, Bé H đồng ý bán và hẹn A đến cầu K, khu S, huyện B. A điều khiển xe gắn máy biển số 59F1-323.29 đến điểm hẹn mua ma túy và hẹn trả tiền sau thì Bé H đồng ý. Mua được ma túy, A điều khiển xe gắn máy về thì gặp bạn là Trần Ngọc Anh Q tại hẻm 125 L, phường Q, Quận A. A để xe gắn máy biển số 59F1-323.29 tại chỗ ở của A là phòng trọ D8 nhà số 125/49A L, phường Q, Quận A (do bà Võ Thị T làm quản lý cho thuê) rồi nhờ Q chở đến bệnh viện phục hồi chức năng điều trị bệnh nghề nghiệp thì Q đồng ý. Khoảng 14 giờ cùng ngày 14/8/2017, khi Q điều khiển xe gắn máy biển số 59U1-404.31 chở A đến trước số 301 L, phường W, Quận A thì bị Công an Quận 8 nghi vấn kiểm tra, phát hiện và thu giữ ma túy như trên. Q không biết là A đi bán ma túy. Lời khai của A và Q phù hợp với nhau. Đối với 03 gói nylon chứa tinh thể không màu gồm 01 gói lớn và 02 gói nhỏ thu tại phòng trọ của A khi khám xét. Gói lớn là ma túy tổng hợp của một người đàn ông tên T (không rõ lai lịch) cho A trước ngày bị bắt khoảng 02 tháng để A bán dần, T là bạn bè quen biết ngoài xã hội của A, do thấy A đi tù về không có việc làm nên T cho ma túy để A bán và sử dụng, còn 02 gói nhỏ là ma túy tổng hợp A mua của người phụ nữ tên bé H vào ngày 13/8/2017 với giá 375.000 đồng để bán với giá 900.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có ghi ký hiệu 1419 (2)2017, chữ ký ghi tên

Tăng Ngọc Bảo A, hình dấu Công an Phường 1 Quận 8 và chữ ký giám định viên Lê Thị H.

- 01 cân điện tử, 03 cây kéo, 01 hộp quẹt gas, 10 gói nylon rỗng kích thước 1x2cm

là dụng cụ A phân chia ma túy để bán.

- 01 bình nhựa có gắn ống thủy tinh và ống hút A có dùng để sử dụng ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen gắn sim số 093.3337.091, số Imei:

013129007448592 (Model A1332 EMC 380A FCC ID: BCG-E2380A IC: 579C-E2380A), A dùng để liên lạc mua bán ma túy.

- Số tiền 2.500.000 đồng, A dùng để mua bán ma túy.

- 01 (Một) xe gắn máy hiệu Yamha Luvias biển số 59F1-232.29, số khung:

RLCL44S10BY-057409, số máy: 44S1-057410, do anh Ngô Bảo A, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: 213 chợ C, phường C, Quận W đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Anh A khai đầu tháng 7/2017, anh A giao xe này cho một thanh niên tên K (không rõ lai lịch) mượn làm phương tiện đi lại do anh A nợ của K số tiền 3.000.000 đồng. Từ khi anh A cho K mượn xe chưa thấy K đem trả. Tăng Ngọc Bảo A khai xe trên là của người thanh niên tên K (không rõ lai lịch) cầm cố cho A với giá 2.000.000 đồng vào đầu tháng 8/2017. A sử dụng xe trên làm phương tiện đi mua bán ma túy.

- Chiếc xe gắn máy hiệu Attila biển số 59U1-404.31 qua xác minh do ông Trần

Ngọc Q đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ông Q khai mua xe trên sử dụng đến 9/2016 thì đưa xe trên cho con ruột là Trần Ngọc Anh Q mượn làm phương tiện đi lại. Ngày 14/8/2017, A nhờ Q chở đi thì bị bắt như trên. Việc A bán ma túy Q không biết.

Tại bản cáo trạng số 352/CT-VKS ngày 23 tháng 11 năm 2017 Viện kiểm sát nhân

dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Tăng Ngọc Bảo A về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 giữ nguyên quan

điểm truy tố bị cáo Tăng Ngọc Bảo A về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) và đề nghị xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 05 năm tù. Áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh

tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra

viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lúc 14 giờ ngày 14/8/2017, tại trước số 301 L, Phường W, Quận A, Đội Cảnh sát

điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8 kiểm tra phát hiện Trần Ngọc Anh Q đang điều khiển xe gắn máy biển số 59U1-404.31 chở Tăng Ngọc Bảo A, A ném từ trên tay xuống đất 01 gói nylon chứa ma túy thì bị phát hiện thu giữ. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tăng Ngọc Bảo A tại phòng trọ D8 nhà số 125/49A L, phường Q, Quận A, thu giữ dưới sàn nhà tầng trệt gồm: 03 gói nylon chứa ma túy tổng hợp, gồm 01 gói lớn và 02 gói nhỏ; 01 cân tiểu ly hiệu “Amput”; 03 cây kéo; 01 bình nhựa có gắn ống hút và ống thủy tinh trên đầu; 01 hộp quẹt; 10 gói nylon rỗng kích thước 1x2cm; 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Luvias biển số 59F1-323.29. Bị cáo A khai đây là ma túy bị cáo mua về mục đích bán lại kiếm lời.

Theo bản kết luận giám định số 1419/KLGĐ-H ngày 28/8/2017 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Gói: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký

ghi tên Tăng Ngọc Bảo A và hình dấu Công an Phường 2, Quận 8 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,4611g (bốn phẩy bốn sáu một một gam), loại Methamphetamine.

Gói: Tinh thể không màu trong 03 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ

ký ghi tên Tăng Ngọc Bảo A và hình dấu Công an Phường 1, Quận 8 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 5,0051g (năm phẩy không không năm một gam), loại Methamphetamine.

Do đó, bị cáo Tăng Ngọc Bảo A đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma

túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Khối lượng Methamphetamine bị cáo cất giữ nhằm mục đích mua bán là 9,4662g, do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) để xử phạt đồi với bị cáo. Với khối lượng 9,4662g Methamphetamine thu giữ của bị cáo A đã thuộc vào tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có mức hình phạt từ 07 năm đến 15 năm. Tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước thời điểm 01/01/2018 (thời điểm Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực), nên theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo Hội đồng xét xử vẫn áp dụng Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) để xét xử đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngày 25/6/2010 bị cáo bị Tòa án nhân

dân Quận 2 xét xử 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 02/9/2016 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì thời hạn được coi là đương nhiên xóa án tích đối với trường hợp bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm là 03 năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt chính, như vậy tính từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt chính đến ngày phạm tội mới thì chưa hết 03 năm nên bị cáo chưa được xóa án tích, do đó cần áp dụng tình tiết định khung tăng nặng tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị

cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm

1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng…”, do bị cáo mua bán ma túy nhằm mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Quá trình bị cáo mua bán trái phép chất ma túy đến khi bị bắt, bị cáo thu lời

37.500.000 đồng, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cần buộc bị cáo nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng vụ án, Cơ quan công an thu giữ ma túy trong 01 (Một) gói niêm

phong bên ngoài có ghi ký hiệu: 1419 (1)/2017, chữ ký ghi tên Tăng Ngọc Bảo A, hình dấu Công an Phường 2, Quận 8 và chữ ký giám định viên Lê Thị H; 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có ghi ký hiệu: 1419 (2)/2017, chữ ký ghi tên Tăng Ngọc Bảo A, hình dấu Công an Phường 1, Quận 8 và chữ ký giám định viên Lê Thị H; 01 cân điện tử, 03 cây kéo, 01 quẹt gas, 10 gói nylon rỗng kích thước 1 cm x 2 cm ; 01 bình nhựa có gắn ống thủy tinh và ống hút, xét đây là những vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen gắn sim số 093.3337.091, số Imei:

013129007448592 (Model A1332 EMC 380A FCC ID: BCG-E2380A IC: 579C-E2380A), A dùng để liên lạc mua bán ma túy và số tiền 2.500.000 đồng, A dùng để mua bán ma túy, căn cứ căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- 01 (Một) xe gắn máy hiệu Yamha Luvias biển số 59F1-232.29, số khung:

RLCL44S10BY-057409, số máy: 44S1-057410, do anh Ngô Bảo A, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: 213 chợ C, phường C, Quận Q đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Anh A khai đầu tháng 7/2017, anh A giao xe này cho một thanh niên tên K (không rõ lai lịch) mượn làm phương tiện đi lại do anh A nợ của K số tiền 3.000.000 đồng. Từ khi anh A cho K mượn xe chưa thấy K đem trả. Tăng Ngọc Bảo A khai xe trên là của người thanh niên tên K (không rõ lai lịch) cầm cố cho A với giá 2.000.000 đồng vào đầu tháng 8/2017. A sử dụng xe trên làm phương tiện đi mua bán ma túy. Do anh A không biết việc A sử dụng xe vào việc phạm tội nên cần trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu là anh Ngô Bảo A, sau này nếu có ai tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu chiếc xe và có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

- Chiếc xe gắn máy hiệu Attila biển số 59U1-404.31 qua xác minh do ông Trần

Ngọc Q đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ông Q khai mua xe trên sử dụng đến 9/2016 thì đưa xe trên cho con ruột là Trần Ngọc Anh Q mượn làm phương tiện đi lại. Ngày 14/8/2017, A nhờ Q chở đi thì bị bắt như trên. Ngày 08/11/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra quyết định xử lý vật chứng: trả lại xe gắn máy trên cho ông Trần Ngọc Q là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với người phụ nữ tên Bé H bán ma túy cho Tăng Ngọc Bảo A do không xác

định được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không có cơ sở để xử lý trong vụ án này.

Đối với người đàn ông tên H cho Tăng Ngọc Bảo A ma túy do không xác định

được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không có cơ sở để xử lý trong vụ án này.

Đối với người thanh niên tên Kiệu bán thuê ma túy cho Tăng Ngọc Bảo A, do

không xác định được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không có cơ sở để xử lý trong vụ án này.

Đối với bà Võ Thị T là người cho Tăng Ngọc Bảo A thuê phòng trọ D8 nhà số

125/49A L, phường W, Quận A không biết A mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không đưa vào diện xử lý.

Đối với Trần Ngọc Anh Q không biết Tăng Ngọc Bảo A bán ma túy nên Cơ quan

Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không xử lý hình sự. Qua xét nghiệm Q dương tính với ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 chuyển giao Quận cho Công an phường 2, Quận 8 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Tăng Ngọc Bảo A phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Áp dụng khoản 1, 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48

Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo Tăng Ngọc Bảo A 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày

14/8/2017.

Phạt bị cáo Tăng Ngọc Bảo A số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để sung

quỹ Nhà nước.

- Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm a,

c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 37.500.000 đồng sung ngân sách Nhà

nước.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có ghi ký hiệu: 1419 (1)/2017, chữ ký ghi tên

Tăng Ngọc Bảo A, hình dấu Công an Phường 2, Quận 8 và chữ ký giám định viên Lê Thị H; 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có ghi ký hiệu: 1419 (2)/2017, chữ ký ghi tên Tăng Ngọc Bảo A, hình dấu Công an Phường 1, Quận 8 và chữ ký giám định viên Lê Thị H; 01 cân điện tử, 03 cây kéo, 01 quẹt gas, 10 gói nylon rỗng kích thước 1 cm x 2 cm ; 01 bình nhựa có gắn ống thủy tinh và ống hút.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

- Số tiền 2.500.000 đồng.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen gắn sim số 093.3337.091, số Imei:

013129007448592 (Model A1332 EMC 380A FCC ID: BCG-E2380A IC: 579C-E2380A).

Trả lại anh Ngô Bảo A:

- 01 (Một) xe gắn máy hiệu Yamaha Luvias biển số 59F1-232.29, số khung:

RLCL44S10BY-057409, số máy: 44S1-057410.

(Tất cả theo Theo phiếu nhập kho vật chứng số 03/PNK ngày 16/11/2017 và Giấy

nộp tiền vào tài khoản lập ngày 10/11/2017).

- Áp dụng Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-

UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Tăng Ngọc Bảo A nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ