- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Q “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Điều 50; điểm i điểm s điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 50 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2026/HS-ST Ngày 13/01/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Kiểm.
Ông Lê Hải Tăng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 5-Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5-Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 123/2026/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 đối với:
- Bị cáo: Đặng Văn Q, sinh năm 2003 tại Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: Tổ dân phố D, phường L, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn L và bà Lê Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 05/10/2025; áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 13/10/2025; có mặt.
- Bị hại: Ông Hồ Văn Nhiều, sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ dân phố Dương Cương, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 04/10/2025, Đặng Văn Q đi bộ từ phòng ngủ của mình đến phòng ngủ của ông Hồ Văn N, thấy cửa phòng đang mở, ông N đang nằm ngủ trên võng. Q đi đến chiếc giường cầm chiếc áo rằn ri lên lục tìm thấy trong túi áo ngực bên phải có chiếc ví giả da màu đen. Q lấy chiếc ví cất vào túi quần sau bên phải của mình rồi đi về phòng trọ kiểm tra bên trong có số tiền 11.120.000đồng cùng một số giấy tờ cá nhân của ông Nhiều. Sau đó Quang sử dụng hết số tiền trên vào việc tiêu sài cá nhân.
Ngày 05/10/2025, Đặng Văn Q đến Công an phường L, tỉnh Ninh Bình đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời giao nộp 01 ví giả da màu đen, 01 thẻ hội viên cựu chiến binh, 01 căn cước công dân, 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe máy, 01 giấy phép lái xe mang tên ông Hồ Văn Nhiều.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Văn Q không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản UBND phường Lê Hồ kết luận: “Tổng giá trị định giá tài sản đối với 01 chiếc ví giả da cũ, màu đen có chiều dài 20cm, chiều rộng 11cm là 170.000 đồng (Một trăm bảy mươi nghìn đồng”
Về trách nhiệm dân sự: Ông Hồ Văn N đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 84/CT-VKS-KV5 ngày 18/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố Đặng Văn Q về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm i, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn Q từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thủ thách từ 24 tháng đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã bồi thường đầy đủ và không có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Bị cáo nhất trí với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Không ai tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn Q thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội phù hợp với bản kết luận định giá tài sản, biên bản thu giữ vật chứng, lời khai của bị hại, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 00 giờ 15 phút ngày 04/10/2025, lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản. Đặng Văn Q đã lén lút vào phòng ngủ của ông Hồ Văn N ở tổ dân phố D, phường L, tỉnh Ninh Bình trộm 01 ví giả da màu đen trị giá 170.000đồng và số tiền 11.120.000đồng. Tổng giá trị là 11.290.000đồng. Hành vi đó của Đặng Văn Q đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là quyền sở hữu về tài sản của công dân. Bị cáo lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại rồi thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật, đã gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội.
Xét về mặt chủ quan của tội phạm, bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ tài sản của người khác nhưng vẫn chiếm đoạt để thỏa mãn nhu cầu cá nhân.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho ông Nhiều; đầu thú; có thời gian tham gia quân đội; có ông nội là ông Đặng Văn Bình được tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s, i khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Khi quyết định hình phạt Tòa án cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu và lời khai của bị cáo làm nghề tự do, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với nộp 01 ví giả da màu đen, 01 thẻ hội viên cựu chiến binh, 01 căn cước công dân, 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe máy, 01 giấy phép lái xe mang tên ông Hồ Văn N là tài sản hợp pháp của ông N. Ngày 15/11/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã trả lại cho ông Nhiều nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Điều 50; điểm i điểm s điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 135; Điều 136; Điều 331, 233, 234 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn Q 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đặng Văn Q cho Uỷ ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình Đặng Văn Q có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí: Bị cáo Đặng Văn Q phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - Phòng HSNV CA tỉnh Ninh Bình; - T.H.A dân sự tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; - Bị hại;; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |