vanban.org

Bản án 07/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo:

Lê Anh T, sinh năm 1986, tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: tổ 7, phường Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do. Bị Viện kiểm sát: Nhân dân khu vực 2, Ninh Bình.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- NINH BÌNH
Bản án số: 07/2026/HS - ST

Ngày: 27/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đang, bà Đinh Thu Hương

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hà Trang- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Ninh Bìnhxét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2025/TLST - HS, ngày 23 tháng 12 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2026/QĐXXST – HS ngày 13 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Lê Anh T, sinh năm 1986, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: tổ A, phường T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con Lê Văn T1 và bà Bùi Thị C; chưa có vợ, con;

Tiền án: Không;

Tiền sự:

Ngày 17/6/2013, bị Công an phường Bắc Sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình (nay là phường Tam Điệp) phạt 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (bị cáo chưa chấp hành); ngày 14/9/2023, bị Công an phường Trung Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình (nay là phường Trung Sơn) phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (bị cáo chưa chấp hành).

Nhân thân: Ngày 09/02/2010, bị Công an phường Bắc Sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình (nay là phường Tam Điệp) phạt 100.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”;ngày 27/11/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2) xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;ngày 06/12/2013, bị UBND thị xã Tam Điệp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng; ngày 29/6/2017, bị UBND phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình (nay là phường Tam Điệp) áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường 03 tháng; ngày 12/4/2018, bị UBND phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là phường Quang Trung) phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 16/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2) đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng; ngày 24/01/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/9/2025, đến ngày 15/9/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 1 Công an tỉnh Ninh Bình(có mặt).

Bị hại: anh Lã Minh N, sinh năm 1995

Nơi cư trú: phố T, phường H, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

- Anh Vũ Mạnh Th, sinh năm 1976

Nơi cư trú: tổ C, phường T, tỉnh Ninh Bình

Nơi ở hiện tại: tổ B phường Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)

- Bà Bùi Thị C, sinh năm 1960

Nơi cư trú: tổ A, phường T, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Anh T không có nghề nghiệp, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài. Sáng ngày 01/9/2025, T lấy chiếc xe máy điện biển kiểm soát 29MĐ2-625.67 của bà Bùi Thị C (mẹ đẻ T) dựng ở nhà, đi trên các trục đường thuộc phường T, tỉnh Ninh Bình để tìm nhà nào sơ hở trộm cắp tài sản. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực ngõ H, đường L, thuộc tổ D, phường T, T phát hiện ngôi nhà số 04 đang trong quá trình xây dựng, không có người trông coi. T dựng xe máy điện tại lề đường, cách ngôi nhà khoảng 20m, rồi đi bộ theo lối cửa chính vào bên trong, quan sát thấy trong nhà không có người; trên trần nhà, cách vị trí tường phía tây 1,5m có lắp đặt 1 camera giám sát; tại khu vực gầm cầu thang tầng 1 có 01 máy cắt kim loại màu xanh đen, nhãn hiệu Makita; 01 máy xoa vữa màu đỏ-đen; 01 máy bơm nước màu xanh của anh Lã Minh Ng, sinh năm 1995, trú tại phường H, tỉnh Ninh Bình là người giám sát thi công xây dựng tại ngôi nhà. T đi đến khu vực gầm cầu thang, tay phải cầm máy cắt kim loại xách ra ngoài đặt tại vị trí để chân của xe máy điện. Sau đó, T điều khiển xe máy điện chở máy cắt kim loại đi đến khu vực giao nhau giữa đường Đ và đường L, cách ngôi nhà khoảng 50 mét, dựng xe tại lề đường, đi bộ quay lại ngôi nhà để tiếp tục lấy máy xoa vữa và máy bơm nước. Đi được khoảng 10m, T thấy ở khu vực đất lưu không có 01 miếng tôn, gần khu vực đất lưu không có một bao bì xác rắn. T nảy sinh ý định dùng miếng tôn che mặt khi vào ngôi nhà để tránh camera phát hiện. T nhặt miếng tôn cầm ở tay rồi tiếp tục đi bộ đến vị trí ngôi nhà số 04, tay phải cầm miếng tôn che ngang phía bên phải khuôn mặt để tránh camera phát hiện, đi vào khu vực gầm cầu thang tầng 1. Đến vị trí cầu thang, T bỏ miếng tôn xuống nền nhà dùng tay phải cầm 01 máy bơm nước và tay trái cầm 01 máy xoa vữa mang ra khỏi ngôi nhà, đến gần khu vực bãi đất lưu không bỏ máy bơm và máy xoa vữa vào chiếc bao bì xác rắn rồi đến vị trí dựng xe máy điện, điều khiển xe đến nơi để các tài sản vừa lấy trộm, bỏ máy cắt kim loại, máy bơm nước và máy xoa vữa vào chiếc bao bì xác rắn để lên giá để chân rồi điều khiển xe máy điện chở số tài sản trên đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Vũ Mạnh Th, sinh năm 1976. T nói với anh Th “Em có ít đồ muốn bán”, rồi lấy máy cắt, máy xoa vữa và máy bơm nước trong bao bì xác rắn cho anh Th xem. Anh Th hỏi về nguồn gốc tài sản, T nói “Máy của em không dùng, em bán lại”. Anh Th tưởng thật đồng ý mua với giá 500.000 đồng. Sau khi thống nhất giá mua, anh Th nhận máy và đưa cho T 500.000 đồng. T cầm tiền và chiếc bao bì xác rắn điều khiển xe máy điện bỏ đi, đi được một đoạn T vứt bao bì xác rắn ở bụi cỏ bên đường (không nhớ vị trí vứt nên cơ quan không thu giữ được).

Ngày 03/9/2025, anh Lã Minh Ng đến ngôi nhà số 4 làm việc, quá trình dọn dẹp chất thải xây dựng thấy mảnh tôn ở nền nhà đã đem vứt đi (cơ quan điều tra không thu giữ được). Ngày 05/9/2025, anh Ng tìm máy bơm để dùng thì phát hiện bị mất trộm máy cắt kim loại, máy xoa vữa và máy bơm nước, đã kiểm tra camera ngôi nhà thì phát hiện trưa ngày 01/9/2025, kẻ gian đã vào nhà trộm cắp nên trích xuất camera lắp đặt trên tường nhà, vị trí cách tường phía tây 1,5m ngay trước cửa ra ghi hình ảnh Lê Anh T vào nhà trộm cắp vào 3 đoạn video đến Công an phường Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình trình báo.

Sáng ngày 06/9/2025, lo sợ hành vi trộm cắp tài sản của mình bị phát hiện, T đã đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Vũ Mạnh Th chuộc lại máy cắt kim loại, máy bơm nước và máy xoa vữa đã bán cho anh Th rồi điều khiển chiếc xe máy điện BKS 29MĐ2-62567 chở đến Cơ quan Công an đầu thú. Cơ quan công an đã thu giữ xe máy điện và toàn bộ tài sản nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 167/KL – HĐĐG ngày 11/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận: 01 máy cắt kim loại màu xanh đen, nhãn hiệu Makita, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.400.000 đồng; 01 máy xoa vữa màu đỏ - đen, nhãn hiệu Jiandun, công suất 1200W, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.200.000 đồng; 01 máy bơm màu xanh, nhãn hiệu Jet-100, công suất 0,75KW, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.540.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 4.140.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 22/CT- VKS ngày 22/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Ninh Bình đã truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Anh T từ 12 (Mười hai) tháng tù đến 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 06/9/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các quết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ ngày 01/9/2025, tại nhà số nhà số 04 đường L, phường T, tỉnh Ninh Bình Lê Anh T đã lén lút chiếm đoạt của anh Lã Minh Ng 01 chiếc máy cắt kim loại màu xanh đen, nhãn hiệu Makita;01 máy xoa vữa màu đỏ - đen, nhãn hiệu Jiandun; 01 máy bơm màu xanh, nhãn hiệu Jet-100 đều đã qua sử dụng, tổng giá trị là 4.140.000 đồng, đem bán cho anh Vũ Mạnh Th.

Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tội trộm cắp tài sản thì

“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lê Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phụchậu quả gây ra và ra đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhiều tiền sự, nhân thân xấunên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giám sát giáo dục, khi lượng hình cũng cần xem xét, bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả gây ravà ra đầu thú để giảm một phần mức hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Cơ quan công an đã thu giữ tài sản bị cáo chiếm đoạt trả cho người bị hại; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1.1. Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.2. Xử phạt Lê Anh T10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 06/09/2025.

2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Lê Anh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại,người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án”. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án ND, VKSND tỉnh Ninh Bình.

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

- VKSND Khu vực 2- Ninh Bình.

- Người tham gia tố tụng theo Điều 262 BLTTHS.

- THAHS, DS.TNB.

(Đã ký)

- Trại TG

- CQ Điều tra

- UBND xã nơi bị cáo cư trú.

- Lưu HS.

Nguyễn Anh Tuấn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 2- NINH BÌNH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2026/QĐXXST- HS

Ninh Bình, ngày 13 tháng 01 năm 2026.

QUYẾT ĐỊNH

ĐƯA VỤ ÁN RA XÉT XỬ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- NINH BÌNH

- Căn cứ vào các điều 45, 255 và 277 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩmthụ lý số: 34/2025/TL-HSST, ngày 23 tháng 12 năm 2025.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1

Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo:

Lê Anh T, sinh năm 1986, tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: tổ 7, phường Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do.

Bị Viện kiểm sát: Nhân dân khu vực 2, Ninh Bình.

Truy tố về tội: “ Trộm cắp tài sản”

Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Thời gian mở phiên tòa: 07 giờ 30 phút, ngày 27 tháng 01 năm 2026.

Địa điểm mở phiên tòa: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình.

Vụ án được xét xử công khai.

Điều 2.

1. Những người tiến hành tố tụng:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toan, ông Lê Xuân Cung

Hội thẩm nhân dân dự khuyết: Bà Trần Thị Mão, ông Nguyễn Văn Đang, bà Đinh Thu Hương, bà Nguyễn Thị Hoan.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang- Thư ký Tòa ánnhân dân khu vực 2- Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Ninh Bình tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Văn Đức- Kiểm sát viên.

Kiểm sát viên dự khuyết:

2. Những người tham gia tố tụng:

2.1. Bị cáo: Lê Anh T (Tạm giam).

2.2. Bị hại:anh Lã Minh Ngọc, sinh năm 1995

Nơi cư trú: phố Tây Bắc, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

2.3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

- Anh Vũ Mạnh Thắng, sinh năm 1976

Nơi cư trú: tổ 1, phường Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình

Nơi ở hiện tại: tổ 1 phường Yên Sơn, tỉnh Ninh Bình.

- Bà Bùi Thị Cư, sinh năm 1960

Nơi cư trú: tổ 7, phường Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình

3. Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa: Nơi nhận:

THẨM PHÁN

- Viện KSND KV2

- Bị cáo, người TGTT.

- Lưu HSVA

Nguyễn Anh Tuấn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 2- NINH BÌNH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

___________________

_______________________________

Ninh Bình, ngày 13 tháng 01 năm 2026.

DANH SÁCH

NHỮNG NGƯỜI CẦN TRIỆU TẬP ĐẾN PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ

Căn cứ vào Quyết định đưa vụ án ra xét xử

Những người cần được triệu tập đến phiên tòa gồm:

2.1. Bị cáo: Lê Anh T (Tạm giam).

2.2. Bị hại:anh Lã Minh Ngọc, sinh năm 1995

Nơi cư trú: phố Tây Bắc, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

2.3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

- Anh Vũ Mạnh Thắng, sinh năm 1976

Nơi cư trú: tổ 1, phường Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình

Nơi ở hiện tại: tổ 1 phường Yên Sơn, tỉnh Ninh Bình.

- Bà Bùi Thị Cư, sinh năm 1960

Nơi cư trú: tổ 7, phường Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình

Cỡ chữ