vanban.org

Bản án 07/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 04/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn V phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Điều luật áp dụng và mức hình phạt: Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 256a, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn V - sử dụng ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn V phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu huỷ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2026/HS-ST
Ngày: 04-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Phương;

2. Ông Huỳnh Ngọc Tấn;

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoài Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2026/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn V, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01/01/1993 tại thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: khu vực K, phường Ngã Bảy, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1965 (còn sống); và bà Lê Thị L, sinh năm: 1971 (còn sống); Vợ: Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1991; Con 02 người: Lớn nhất sinh năm: 2014, nhỏ sinh năm: 2015; Tiền án: Không;

Tiền sự: 01 lần: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 02/QĐ-TA ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13, thành phố Cần Thơ), quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tấn V thời hạn 20 tháng. Ngày 04/6/2025, Vũ chấp hành xong quyết định

Bị bắt tạm giữ từ ngày 21/10/2025 đến ngày 27/8/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/01/2024, Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13, thành phố Cần Thơ) ban hành Quyết định số 02/QĐ-TA quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo Nguyễn Tấn V, thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 tháng, tính từ ngày 18/01/2024. Bị cáo V chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ, trong thời gian chấp hành Bị cáo V được giảm 02 tháng 15 ngày. Đến ngày 04/6/2025, Bị cáo V chấp hành xong, ngày 11/6/2025 UBND phường Lái Hiếu, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang (nay là phường Ngã Bảy, thành phố Cần Thơ) ban hành Quyết định số 133/QĐ-UBND quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Bị cáo V trong thời hạn 02 năm kể từ ngày 11/6/2025 đến 11/6/2027.

Ngày 20/10/2025, bị cáo Nguyễn Tấn V tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của bị cáo thuộc khu vực K, phường Ngã Bảy, thành phố Cần Thơ, nguồn gốc ma tuý là của đối tượng tên Phúc cho Bị cáo V. Đến 10 giờ ngày 21/10/2025, Công an phường Ngã Bảy phát hiện Bị cáo V có biểu hiện sử dụng ma túy nên tiến hành test nhanh xác định Bị cáo V dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine. Sau đó, Công an phường Ngã Bảy chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cần Thơ thụ lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra Bị cáo V khai nhận trước đó (không nhớ rõ thời gian) đã sử dụng trái phép chất ma túy 2-3 lần tại nhà của bị cáo, nguồn gốc ma túy do Bị cáo V tự đi mua ở Trung tâm thương mại Cái Khế, thành phố Cần Thơ, không xác định nhân thân lai lịch người bán.

Căn cứ Kết luận giám định số 1665/KL-KTHS ngày 28/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, đối với mẫu nước tiểu của bị cáo Nguyễn Tấn V, kết luận:

Mẫu gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.

Kèm theo kết luận giám định: Không; Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật đã sử dụng hết trong giám định.

Vật chứng trong vụ án: Cơ quan điều tra đã chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 - Cần Thơ quản lý gồm: Túi niêm phong, Mã số NS2 24019082, bên trong có 01 bật lửa màu vàng; dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 đầu ống nhựa gắn vào ly thủy tinh có nắp đậy màu đỏ có gắn ống hút nhựa.

Trách nhiệm dân sự: Không có.

Tại cáo trạng số 27/CT-VKS-TPNB ngày 14/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ đã quyết định truy tố Nguyễn Tấn V có lý lịch và hành vi phạm tội nêu trên ra trước Toà án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ để xét xử về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Tấn V theo tội danh và điều luật như quyết định cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội; Kiểm sát viên đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn V phạm tội Sử dụng trái phép chất ma tuý. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2025. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn V với mức án từ 02 đến 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/10/2025.

- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: Túi niêm phong, Mã số NS2 24019082, bên trong có 01 bật lửa màu vàng; dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 đầu ống nhựa gắn vào ly thủy tinh có nắp đậy màu đỏ có gắn ống hút nhựa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã công bố, bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, bị cáo chỉ yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với nhau, đồng thời phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Nguyễn Tấn V là đối tượng nghiện ma túy đang chấp hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú trong thời hạn 02 năm kể từ ngày 11/6/2025 đến 11/6/2027. Vào ngày 20/10/2025 Bị cáo V sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine tại nhà của bị cáo thuộc khu vực 9, phường Ngã Bảy, thành phố Cần Thơ. Căn cứ Kết luận giám định số 1665/KL-KTHS ngày 28/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, đối với mẫu nước tiểu của bị cáo Nguyễn Tấn V, kết luận: Mẫu gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn V sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy, đã đủ yếu tố cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

[2.2] Về điều luật quy định tội danh và khung hình phạt: Tại Điều 256a về Tội Sử dụng trái phép chất ma tuý Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định:

“Điều 256a Bộ luật Hình sự quy định: Tội sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Tấn V về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025 là có căn cứ, đúng quy định.

Đối với đối tượng tên Phúc đã cho ma túy và đối tượng bán ma tuý ở trung tâm thương mại Cái Khế để Bị cáo V sử dụng chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, đủ cơ sở xử lý sau.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý, tàng trữ, sử dụng chất ma túy, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý. Bị cáo có 01 tiền sự: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 02/QĐ-TA ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13, thành phố Cần Thơ), quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tấn V thời hạn 20 tháng. Ngày 04/6/2025, Bị cáo V chấp hành xong quyết định, đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy nhưng bị cáo không chấp hành mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà mình đã thực hiện.

Trong quá trình xem xét áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt tương xứng đối với bị cáo.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Cụ thể: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2011/HSST ngày 11/3/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm b, h khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 69, khoản 1 Điều 74 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bị cáo V 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Buộc nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, chấp hành xong vào ngày 01/4/2011.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2014/HSST ngày 14/01/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bị cáo V 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Buộc nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, chấp hành xong vào ngày 04/3/2014.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2016/HSST ngày 13/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bị cáo V 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Buộc nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, chấp hành xong vào ngày 11/4/2017.

Với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên, xét cần có mức hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cũng như đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Không

Về vật chứng:

Đối với: Túi niêm phong, Mã số NS2 24019082, bên trong có 01 bật lửa màu vàng; dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 đầu ống nhựa gắn vào ly thủy tinh có nắp đậy màu đỏ có gắn ống hút nhựa. Là dụng cụ dùng để sử dụng chất ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Bị cáo được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 268, Điều 269, Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn V phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

1. Điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 256a, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn V 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/10/2025. Tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu huỷ:

Túi niêm phong, Mã số NS2 24019082, bên trong có 01 bật lửa màu vàng; dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 đầu ống nhựa gắn vào ly thủy tinh có nắp đậy màu đỏ có gắn ống hút nhựa.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Tấn V phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ