- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Văn C - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? C n cứ vào điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố t ng Hình sự;
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ NG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2026/HS-PT Ngày: 12/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ NG THÁP
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Vĩnh Hữu.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Nhàn.
Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Hương – Thẩm tra viên;
ại di n Vi n ki m sát nh n d n t nh ồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Võ Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 n m 2026 t i tr s Toà án nh n d n t nh Đ ng Tháp t ử phúc thẩm công khai v án hình sự th lý số: 340/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 11 n m 2025 đối với bị cáo Lê V n C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2025/HS-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nh n d n Khu vực 5 - t nh Đ ng Tháp.
Bị cáo có kháng cáo:
Bị cáo Lê V n C sinh ngày 09/10/1985; T i: t nh Tiền Giang (nay là t nh Đ ng Tháp); Số CCCD: 082085004555;
Nơi cư trú: Ấp H ã H t nh Đ ng Tháp;
Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ v n hoá: 05/12; D n tộc: kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Lê V n M (đã chết) và bà Nguyễn Thị B;
Bị cáo có vợ Nguyễn Thị Mỹ X và có 02 người con;
Tiền án tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp d ng biện pháp ng n chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
Bị cáo có mặt t i phiên tòa.
*. Người bào chữa cho bị cáo C:
Ph m Minh Đ - Trợ giúp viên pháp lý của Trung t m Trợ giúp pháp lý Nhà nước t nh Đ ng Tháp
*. Ngoài ra, trong vụ án còn có đại di n hợp pháp của người bị hại kh ng có kháng cáo, bản án kh ng bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 02 giờ ngày 25/9/2024 bị cáo Lê V n C điều khiển e mô tô biển số 63D1-169.15 đi từ nhà đến chợ đầu mối S thuộc thành phố S t nh Đ ng Tháp để ch rau củ. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày khi đến km 2022 + 790m Quốc lộ A đo n thuộc ấp A ã A huyện C t nh Tiền Giang (nay thuộc ấp A ã T t nh Đ ng Tháp), C điều khiển e mô tô biển số 63D1-169.15 theo hướng M - T lưu thông trên làn đường giữa mặc dù quan sát thấy bà Nguyễn Thị Đ1 đang đi bộ qua đường theo hướng từ lề trái sang khoảng cách khoảng 70 m t nhưng Còn không giảm tốc độ một cách an toàn nhường đường cho bà Đ1 mà tiếp t c điều khiển e vượt qua bà Đ1 làm phần đầu e mô tô biển số 63D1-169.15 đ ng vào ch n phải bà Đ1 g y tai n n;
Hậu quả làm bà Nguyễn Thị Đ1 bị thương được đưa cấp cứu t i Phòng khám Đ2 đến khoảng 05 giờ 40 phút cùng ngày bà Đ1 tử vong;
Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường v tai n n giao thông ảy ra ngày 25/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ghi nhận:
Đo n đường ảy ra tai n n t i Km 2022 +790m trên Quốc lộ A bên phần đường hướng từ M - T đường được trãi nhựa bằng phẳng bề mặt bằng phẳng có 03 làn đường làn đường bên phải rộng 2 50 m t làn đường giữa rộng 3 50 m t làn đường bên trái rộng 3 50 m t hiện trường làn đường được m rộng dần ra bên trái rộng 2 90 m t.
Theo Biên bản dựng l i hiện trường v tai n n giao thông ảy ra ngày 25/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ghi nhận:
Đo n đường ảy ra tai n n t i Km 2022 + 790m trên Quốc lộ A bên phần đường hướng từ M - T đường được trãi nhựa bằng phẳng bề mặt bằng phẳng có 03 làn đường làn đường bên phải rộng 2 50 m t làn đường giữa rộng 3 50 m t làn đường bên trái rộng 3 50 m t hiện trường làn đường được m rộng dần ra bên trái rộng 2 90 m t.
Theo biên bản khám nghiệm phương tiện e mô tô biển số 63D1-169.15 ngày 25/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ác định:
Dấu vết trên phương tiện: Mủ ốp ghi đông bên phải bể kích thước (23 07) cm; bửng chắn gió bên phải ước kích thước (14 5 18) cm nứt dài 05 dính vải sợi s ch b i;
Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống còi đèn phanh ho t động bình thường.
Kết luận giám định pháp y số 316/KLGĐTT-TTPY ngày 25/9/2024 của Trung t m pháp y thuộc S Y kết luận nguyên nh n tử vong của Nguyễn Thị Đ1: Chấn thương sọ não kín do uất huyết dưới màng nhện bán cầu não trái. Xuất huyết dưới màng cứng trán phải và thái dương trái. Xuất huyết hai bán cầu tiểu não. Dập não thái dương trái. Vỡ vòm sọ sàng sọ. Gãy hỡ hai ương cẳng ch n phải do tai n n giao thông. Kết quả t nghiệm n ng độ Alcool trong máu tử thi Nguyễn Thị Đ1: 64.0512mg/dL (13.9mmol/L).
Theo phiếu kết quả t nghiệm n ng độ c n trong máu của Trung t m y tế huyện C vào ngày 26/9/2024 ác định Lê V n C t i thời điểm ảy ra tai n n không có n ng độ c n trong máu.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2025/HS-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nh n d n Khu vực 5 - t nh Đ ng Tháp đã Quyết định: Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê V n C về tội: “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Xử ph t: Bị cáo Lê V n C 01 (một) n m tù. Thời h n tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về phần ử lý vật chứng trách nhiệm d n sự án phí và quyền kháng cáo của bị cáo đ i diện hợp pháp người bị h i.
Ngày 01/10/2025 bị cáo Lê V n C có đơn kháng cáo với nội dung: Xin em t giảm nhẹ hình ph t và in được hư ng án treo.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lê V n C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo in em t giảm nhẹ hình ph t và in được hư ng án treo;
Trợ giúp viên pháp lý là người bào chữa cho bị cáo Lê V n C đưa ra nhiều luận cứ được quy định t i Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo C in em t cho bị cáo còn đượng hư ng án treo;
Đ i diện Viện kiểm sát nh n d n t nh Đ ng Tháp phát biểu ý kiến:
Trong quá trình th lý giải quyết v án Thẩm phán Hội đ ng t ử và bị cáo đã tu n thủ đúng quy định của Bộ luật Tố t ng Hình sự;
Về nội dung v án: Đ i diện Viện kiểm sát đưa ra nhiều luận cứ ph n tích về tính chất mức độ hành vi ph m tội của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ t ng nặng trách nhiệm hình sự mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Lê V n C là phù hợp. Tuy nhiên bị cáo Lê V n C có bổ sung tình tiết mới mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa em t là Quyết định số 2104/QĐ-UBND ngày 31/10/2025 của Ủy ban nh n d n ã t nh Đ ng Tháp về việc trợ cấp ã hội hàng tháng cho bị cáo Lê V n C là người khuyết tật d ng vận động mức độ nặng bị cáo là lao động chính trong gia đình nên đề nghị áp định Điều 54 Bộ luật Hình sự chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo cho bị cáo hư ng án treo thời gian thử thách là 02 n m kể từ ngày tuyên án phúc thẩm sửa bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án c n cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đ ng t ử nhận định như sau:
. X t thời h n kháng cáo của bị cáo Lê V n C Hội đ ng t ử t thấy:
C n cứ vào đơn kháng cáo của bị cáo Lê V n C thì bị cáo kháng cáo trong thời h n theo quy định của Bộ luật Tố t ng Hình sự;
. X t yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê V n C về việc in em t giảm nhẹ hình ph t và được hư ng án treo Hội đ ng t ử t thấy:
Lời khai nhận của bị cáo Lê V n C phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các chứng cứ tài liệu có trong h sơ v án. Do đó Hội đ ng t ử có đủ cơ s ác định:
Khoảng 02 giờ ngày 25/9/2024 bị cáo Lê V n C điều khiển e mô tô biển số 63D1-169.15 đi từ nhà đến chợ đầu mối S thuộc thành phố S t nh Đ ng Tháp để ch rau củ;
Đến khoảng 05 giờ cùng ngày khi đến km 2022 + 790m Quốc lộ A đo n thuộc ấp A ã A huyện C t nh Tiền Giang (nay thuộc ấp A ã T t nh Đ ng Tháp), C điều khiển e mô tô biển số 63D1-169.15 theo hướng M - T lưu thông trên làn đường giữa mặc dù quan sát thấy bà Nguyễn Thị Đ1 đang đi bộ qua đường theo hướng từ lề trái sang khoảng cách khoảng 70 m t nhưng Còn không giảm tốc độ một cách an toàn nhường đường cho bà Đ1 mà tiếp t c điều khiển e vượt qua bà Đ1 làm phần đầu e mô tô biển số 63D1-169.15 đ ng vào ch n phải bà Đ1 g y tai n n;
Hậu quả làm bà Nguyễn Thị Đ1 bị thương được đưa cấp cứu t i Phòng khám Đ2 đến khoảng 05 giờ 40 phút cùng ngày bà Đ1 tử vong;
Vì thế có đủ cơ s ác định nguyên nh n chính g y ra tai n n giao thông là do bị cáo Lê V n C bị cáo điều khiển e môtô thiếu chú ý quan sát không giảm tốc độ để có thể dừng l i một cách an toàn khi có người đi bộ qua đường dẫn đến tai n n làm chết 01 người;
Hành vi của bị cáo vi ph m nguyên tắc ho t động giao thông đường bộ vi ph m các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định t i khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ n m 2008 và khoản 6 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của e cơ giới e máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ;
T i khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ quy định: “ 4. Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khi n phương ti n phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.
Những nơi kh ng có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khi n phương ti n phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn ”;
Tòa án cấp sơ thẩm đã ác định hành vi ph m tội của bị cáo Lê V n C đã ph m vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”, tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
. Về tình tiết t ng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đ ng t ử t thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm ác định bị cáo Lê V n C không có tình tiết t ng nặng theo quy định t i Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Bị cáo Lê V n C có nh n th n tốt chưa có tiền án tiền sự quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo n n n hối cải tự nguyện nộp tiền để khắc ph c một phần hậu quả;
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp d ng điểm b s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình ph t đối với bị cáo là phù hợp;
X t về tính chất mức độ hành vi ph m tội của bị cáo Lê V n C là nguy hiểm cho ã hội không những m ph m trực tiếp đến tình hình trật tự an toàn giao thông mà còn m ph m đến tính m ng của người bị h i; Hành vi của bị cáo g y mất an ninh trật tự t i địa phương làm cho mọi người tham gia giao thông hoang mang lo sợ;
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi ph m tội của bị cáo và đã em t nh n th n tình tiết t ng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên ử ph t bị cáo Lê V n C 01 n m tù là không nặng phù hợp với tính chất mức độ hành vi ph m tội của bị cáo;
T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo L cung cấp được tình tiết bị cáo là lao động chính trong gia đình bị cáo phải nuôi 02 con nhỏ và nuôi cha mẹ già; Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó kh n được chính quyền địa phương ác nhận; Bị cáo Còn có cung cấp Quyết định số 2104/QĐ-UBND ngày 31/10/2025 của Ủy ban nh n d n xã t nh Đ ng Tháp về việc trợ cấp ã hội hàng tháng cho bị cáo Lê V n C là người khuyết tật d ng vận động mức độ nặng mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa em t nên cần áp d ng điểm b s p khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Bị cáo Lê V n C có nơi cư trú ổn định bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ ngoài những tình tiết mà Tòa án cấp sơ thẩm đã em t nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi ã hội cho bị cáo hư ng án treo và trong thời gian thử thách cũng đảm bảo được tính r n đe giáo d c và phòng ngừa chung cho ã hội;
Vì thế Hội đ ng t ử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê V n C cho nên cần sửa bản án hình sự sơ thẩm.
. Đối với đề nghị của Đ i diện Viện kiểm sát nh n d n t nh Đ ng Tháp phù hợp nhận định của Hội đ ng t ử;
. Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo có một phần phù hợp nhận định của Hội đ ng t ử.
. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê V n C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị;
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
C n cứ vào điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố t ng Hình sự;
1. Xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê V n C;
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2025/HS-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nh n d n Tòa án nh n d n Khu vực 5 - t nh Đ ng Tháp;
Tuyên bố bị cáo Lê V n C ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b s p khoản 1 và khoản Điều 51; Điều 65; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử ph t: Bị cáo Lê V n C 01 (một) n m tù nhưng cho hư ng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) n m tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê V n C cho Ủy ban nhân dân xã t nh Đ ng Tháp quản lý giám sát giáo d c bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hư ng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định t i Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hư ng án treo cố ý vi ph m nghĩa v theo quy định của Luật thi hành án Hình sự hai lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hư ng án treo.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: C n cứ các điều 135 136 Bộ luật Tố t ng Hình sự;
Áp d ng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Lê V n C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Bản án quyết định và những phần của bản án quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
*. Nơi nhận:
| - TAND tối cao; - VKSND t nh Đ ng Tháp; - TAND Khu vực 5; - VKSND Khu vực 5; - THAHS CA t nh Đ ng Tháp; - Phòng h sơ CA t nh Đ ng Tháp; - THADS t nh Đ ng Tháp; - Bị cáo; - Lưu: H sơ AV; | TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Vĩnh Hữu |