vanban.org

Bản án 07/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị V.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 14/11/2021 và cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 06/02/2012 cho chị Nguyễn Thị V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi các con do chị Nguyễn Thị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị V - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 16-3-2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Đồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Quốc Huy.

Bà Trần Thị Thùy Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Vi - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2026, tại Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 7 - tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2026/QĐXX-ST ngày 23 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2026/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1984. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn S, xã B, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/8/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã Đ nay là xã B, tỉnh Hưng Yên. Vợ chồng chị sống tại thôn S, xã P nay là thôn S, xã B, tỉnh Khánh Hòa. Cuộc sống vợ chồng tương đối hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, thường cãi vã, vợ chồng thiếu quan tâm chăm sóc cho nhau. Hiện nay, chị và anh T không còn sống chung với nhau, bỏ mặc mạnh ai nấy sống, không quan tâm gì đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 03 (ba) người con chung là cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 14/11/2021; cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 06/02/2012 và Nguyễn Khánh L, sinh ngày 10/11/2006.

Hiện nay, chị V làm nghề nông, thu nhập tương đối ổn định, đủ trang trải cuộc sống và lo cho các con.

Khi ly hôn, chị V yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tú A và cháu Nguyễn Thùy D, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi các con. Đối với con chung là Nguyễn Khánh L đã thành niên và có khả năng lao động nên chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng, triệu tập anh Nguyễn Văn T đến giải quyết vụ việc ly hôn với chị V, nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai, không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình, nhiều lần vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa.

Hôn nhân giữa chị V và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị V là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị V được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 14/11/2021 và cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 06/02/2012 cho chị V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi các con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Chị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với anh T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại xã B, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa.

Tòa án đã niêm yết công khai giấy báo lần thứ nhất, lần thứ hai triệu tập bị đơn đến Tòa án để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về nội dung tranh chấp:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh T chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã Đ nay là xã B, tỉnh Hưng Yên nên đây là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng tương đối hạnh phúc, về sau do bất đồng quan điểm, vợ chồng cãi vã, thiếu quan tâm nhau nên mâu thuẫn gia đình xảy ra và ngày càng trầm trọng. Khoảng tháng 8/2023 cho đến nay, vợ chồng không còn sống chung, bỏ mặc mạnh ai nấy sống, không quan tâm gì đến nhau.

Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng để anh T tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Chứng tỏ anh T đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình, anh T không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa anh với chị V.

Qua xác minh tại địa phương cho thấy: Mâu thuẫn giữa chị V và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc chị V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát, nên yêu cầu ly hôn của chị V được Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.2. Về con chung: Có 03 (ba) người con chung là cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 14/11/2021; cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 06/02/2012 và Nguyễn Khánh L, sinh ngày 10/11/2006. Cháu Thùy D có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tú A và cháu Thùy D, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi các con. Hiện nay, chị V làm nông, thu nhập tương đối ổn định, đủ trang trải cuộc sống và lo cho con. Xét thấy, chị V có đủ khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao cháu Nguyễn Tú A và cháu Nguyễn Thùy D cho chị V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi các con do chị V không có yêu cầu.

Đối với con chung là Nguyễn Khánh L đã thành niên và có khả năng lao động, chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 14/11/2021 và cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 06/02/2012 cho chị Nguyễn Thị V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi các con do chị Nguyễn Thị V không có yêu cầu.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001830 ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Chị Nguyễn Thị V đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ