vanban.org

Bản án 07/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Trinh N.

Về hôn nhân: Cho chị Lê Trinh N được ly hôn với anh Võ Trung A. Về con chung: Có 01 người con chung là Võ Lê Bảo H, sinh ngày 29/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Trinh Nữ ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Trinh N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3-GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2026/HNGĐ-ST
Ngày 15-01-2026.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-GIA LAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Khương;

2. Ông Võ Lê Thi Văn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hữu Xuân Lộc là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 268/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 46/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Trinh N, sinh năm: 2004.

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 11/8/2021.

Địa chỉ thường trú: Thôn V, xã P, tỉnh Gia Lai.

2. Bị đơn: Anh Võ Trung A, sinh năm: 2004.

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 11/8/2021

Địa chỉ thường trú: Thôn V, xã P, tỉnh Gia Lai

Chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã P, tỉnh Gia Lai.

(Chị Lê Trinh N vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Võ Trung A vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/9/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Trinh N trình bày:

+ Về hôn nhân: Chị Lê Trinh N và anh Võ Trung A tự nguyện tìm hiểu, đi đến chung sống như vợ chồng vào năm 2022; được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Nay là Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Gia Lai) vào ngày 11/02/2025. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 7/2025 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong công việc, cuộc sống; anh Võ Trung A không quan tâm chăm sóc gia đình và vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2025 cho đến nay. Chị Lê Trinh N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng trầm trọng kéo dài nhưng không có biện pháp để hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Võ Trung A.

+ Về con chung: Có 01 người con chung là Võ Lê Bảo H, sinh ngày 29/01/2023. Hiện nay, người con chung sức khoẻ bình thường, đang sống với anh Võ Trung A. Ly hôn, chị Lê Trinh N yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý người con chung và không yêu cầu anh Võ Trung A cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn anh Võ Trung A: Anh Võ Trung A có nơi đăng ký thường trú tại thôn V, xã P, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay thôn M, xã P, tỉnh Gia Lai. Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án, nhưng bị đơn anh Võ Trung A không có văn bản trình bày ý kiến về việc Tòa án thụ lý vụ kiện gửi đến Tòa án; cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến và hoà giải.

- Tại phiên toà: Nguyên đơn chị Lê Trinh N vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lê Trinh N giữ nguyên ý kiến và yêu cầu nêu trên. Bị đơn anh Võ Trung A vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” và bị đơn cư trú tại xã P, tỉnh Gia Lai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai theo quy định của khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai về việc giải quyết vụ án:

+ Về hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận cho chị Lê Trinh N được ly hôn với anh Võ Trung A.

+ Về con chung: Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Giao người con chung là Võ Lê Bảo H, sinh ngày 29/01/2023 cho chị Lê Trinh N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Trinh N không yêu cầu anh Võ Trung A cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

+ Tài sản chung, nghĩa vụ tài sản: Nguyên đơn chị Lê Trinh N không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

+ Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Lê Trinh N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vu ̣ kiện tranh chấp “Ly hôn” và người bị kiện cư trú tại thôn M, xã P, tỉnh Gia Lai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lê Trinh N vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Võ Trung A đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn chị Lê Trinh N và bị đơn anh Võ Trung A.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Lê Trinh N và anh Võ Trung A kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Gia Lai) vào ngày 11 tháng 02 năm 2025. Lời trình bày của chị Lê Trinh N phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số: 12; nơi đăng ký: UBND xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Nay là UBND xã P, tỉnh Gia Lai); ngày đăng ký 11/02/2025, cấp cho Lê Trinh N và Võ Trung A (Bản chính). Do đó, hôn nhân giữa chị Lê Trinh N và Võ Trung A là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Chị Lê Trinh N cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 7 năm 2025 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong công việc, cuộc sống; anh Võ Trung A không quan tâm chăm sóc gia đình và vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2025 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án cho anh Võ Trung A, nhưng anh Võ Trung A không có văn bản trình bày ý kiến đối với việc Tòa án thụ lý vụ án gửi đến Tòa án; không đến Tòa án để trình bày ý kiến, hoà giải và tại phiên tòa anh Võ Trung A vắng mặt. Điều này cho thấy, anh Võ Trung A đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét hôn nhân giữa chị Lê Trinh N và anh Võ Trung A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có duy trì cũng không đem lại kết quả. Điều này phù hợp với thực tế và phù hợp với kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị Lê Trinh N, anh Võ Trung A tại địa phương nơi cư trú. Do đó, chấp nhận cho chị Lê Trinh N được ly hôn với anh Võ Trung A là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Có 01 người con là Võ Lê Bảo H, sinh ngày 29/01/2023. Lời trình bày của Lê Trinh N phù hợp tài liệu, chứng cứ do chị N giao nộp là Giấy khai sinh của Võ Lê Bảo H, sinh ngày 29/01/2023 (bản sao).

Chị Lê Trinh N xác định hiện nay người con chung đang sống với anh Võ Trung A, sức khoẻ bình thường. Ly hôn, chị Lê Trinh N yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý người con chung.

Xét yêu cầu về nuôi con chung của chị Lê Trinh N là chính đáng. Người con chung giữa chị N và anh Võ Trung A hiện nay dưới 36 tháng tuổi và chị N không có hành vi gì ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ của người con. Do đó, yêu cầu được trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý con chung của chị N phù hợp với khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận là giao người con chung là Võ Lê Bảo H cho chị Lê Trinh N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Trinh N không yêu cầu anh Võ Trung A cấp dưỡng nuôi con, nên không xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bên kia. Khi cần thiết chị Lê Trinh N, anh Võ Trung A có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Lê Trinh N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do không làm việc được với bị đơn anh Võ Trung A, nên vấn đề này sẽ được xem xét trong một vụ án khác, nếu các bên đương sự có yêu cầu.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Lê Trinh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí , lệ phí Tòa án số : 0004805 ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Chị Lê Trinh N đã nộp xong.

Về đề nghị của Kiểm sát viên hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; các điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Trinh N.

1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Trinh N được ly hôn với anh Võ Trung A.

2. Về con chung: Có 01 người con chung là Võ Lê Bảo H, sinh ngày 29/01/2023.

2.1. Buộc anh Võ Trung A giao người con chung là Võ Lê Bảo H cho chị Lê Trinh N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Trinh N không yêu cầu anh Võ Trung A cấp dưỡng nuôi con, nên không xét.

2.3. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bên kia. Khi cần thiết chị Lê Trinh N, anh Võ Trung A có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Không xem xét trong vụ án này. Khi nào chị Lê Trinh N và anh Võ Trung A có tranh chấp, yêu cầu thì Tòa án thụ lý, giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Lê Trinh N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghin) đồng án phi hôn nhân sơ thẩm , nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng

̀

́ án phí sơ thẩm chị N đa nô ̣̃ p là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số : 0004805 ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Chị Lê Trinh N đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ