vanban.org

Bản án 07/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N: Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Trung T; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N kiện Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15 - LÂM ĐỒNG
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2026/HNGĐ-ST
Ngày : 21 - 01 - 2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Trọng;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Quang;

2. Ông Lê Ngọc Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Long Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Trâm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 204/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 891/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/12/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Lâm Đồng, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm: 1984; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Ấp N, xã X, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm: 1981; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Tổ dân phố 7 TA, phường L, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 20/01/2025, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Trung T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/2009 theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 114 tại Uỷ ban nhân dân phường TA, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (cũ). Sau khi kết hôn, vợ chồng bà về sống chung một nhà, nhưng được khoảng 06 tháng, vì điều kiện kinh tế khó khăn nên bà chuyển về xã X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) sinh sống. Thời gian đầu thì vợ chồng còn qua lại với nhau, sau đó thì ông T không còn thăm hỏi đến bà nữa, thỉnh thoảng gọi điện thăm con. Từ đó, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng bà sống ly thân khoảng 15 năm nay. Bà N nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông T không còn hạnh phúc nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà N và ông T có với nhau 01 con chung là Nguyễn Nhật T, sinh ngày 02/01/2011. Khi ly hôn, bà yêu cầu giao cháu T cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Trung T, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Lâm Đồng đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông T theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông T không tham gia tố tụng. Tiến hành xác minh tại Công an phường L, tỉnh Lâm Đồng, xác định: Ông Thành có đăng ký thường trú tại Tổ dân phố 7 TA, phường L, tỉnh Lâm Đồng, nhưng vì làm nghề tài xế nên ông T không thường xuyên có mặt tại địa phương.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị N có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Do vậy, Tòa án chỉ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; lập biên bản xác nhận vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung;

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với ông Nguyễn Trung T; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung; bà N không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung, nợ chung. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hơn lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Lâm Đồng phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N: Cho bà Phạm Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Trung T; giao con chung là Nguyễn Nhật T, sinh ngày 02/01/2011 cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng, chia tài sản chung, nợ chung, do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Tuyên nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Phạm Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Trung T; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Nhật T, sinh ngày 02/01/2011. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con. Do bị đơn có nơi cư trú tại Tổ dân phố 7 TA, phường L, tỉnh Lâm Đồng, nên Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Lâm Đồng thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 4 của Nghị quyết số: 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị N có mặt; bị đơn ông Nguyễn Trung T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Trung T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TA, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (cũ) theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 114 ngày 23/11/2009. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, bà N và ông T đủ điều kiện kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T là hợp pháp.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N về việc ly hôn với ông Nguyễn Trung T, Hội đồng xét xử thấy: Bà N yêu cầu ly hôn với ông T vì cho rằng vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T không quan tâm đến gia đình, vợ con, vợ chồng sống ly thân khoảng 15 năm này. Quá trình giải quyết vụ án, ông T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không thể lấy lời khai của ông T để làm rõ mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng bà N và ông T được. Tuy nhiên, tại Biên bản xác minh ngày 24/11/2025 thể hiện thời gian gần đây, bà N cùng con là Nguyễn Nhật T không còn sinh sống tại địa phương. Do đó, có căn cứ xác định vợ chồng bà N, ông T sống ly thân như bà N trình bày. Quá trình giải quyết vụ án, có cơ sở để tin rằng ông T tuy biết việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết ly hôn theo yêu cầu của bà N nhưng ông vẫn không tham gia tố tụng, chứng tỏ ông không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà N. Với những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở để khẳng định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Khi ly hôn, bà N yêu cầu giao con chung là Nguyễn Nhật T, sinh ngày 02/01/2011 cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Thấy rằng, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, cháu T do bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chăm lo việc học hành. Do đó, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu T, có xem xét đến nguyện vọng của cháu, cần giao cháu T cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Bà Phạm Thị N không yêu cầu ông Nguyễn Trung T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số: 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Trung T;

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Nhật T, sinh ngày 02/01/2011 cho bà Phạm Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Trung T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

3. Về án phí: Bà Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Hòa đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006013 ngày 21/10/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng. Bà Phạm Thị N đã nộp đủ án phí.

4. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ