vanban.org

Bản án 07/2026/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Linh Ch.

Xác định anh Bùi Huy C, sinh ngày 23/6/1997; Địa chỉ: thôn L, xã HK, tỉnh Ninh Bình; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx do Bộ công an cấp ngày 15/8/2022 là cha đẻ của cháu Bùi Minh Tr, sinh ngày 20/8/2022, giới tính: Nam, địa chỉ nơi ở hiện nay: Thôn L, xã HK, tỉnh Ninh Bình (Theo giấy chứng sinh số 26, quyển số…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Linh Ch.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 19-01-2026
V/v xác định cha cho con chưa thành niên

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Hạnh

Bà Phạm Thị Thanh Nhàn

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Kiều Trang – Thẩm tra viên Toà án nhân dân Khu vực 8 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 8 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2025/TLST-HNGĐ ngày 22/10/2025 về việc “tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Ninh Bình, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Linh Ch, sinh ngày 26/7/1997. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã HK, tỉnh Ninh Bình.

Số CCCD: xxxxxxxxxxxx do Bộ công an cấp ngày 10/7/2023.

Bị đơn: Anh Bùi Huy C, sinh ngày 23/6/1997. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã HK, tỉnh Ninh Bình.

Số CCCD: xxxxxxxxxxxx do Bộ công an cấp ngày 15/8/2022.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn D, sinh ngày 03/3/1992. Địa chỉ: thôn K 3, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La nay là thôn K 3, xã P, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện ngày 28/9/2025, bản tự khai và tại đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn, chị Đặng Linh Ch trình bày:

Chị Đặng Linh Ch và anh Nguyễn Văn D có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2015 nhưng đến năm 2020 nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn nên chị Ch và anh D đã sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ với nhau. Đến cuối năm 2023, chị Ch và anh D ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 05/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La.

Trong thời gian chị Ch và anh D sống ly thân thì chị gặp và nảy sinh tình cảm, quan hệ tình dục với anh Bùi Huy C. Chị Ch có thai và sinh được một người con với anh C vào ngày 20/8/2022. Do sức khỏe của chị Ch yếu nên anh C tự đi làm giấy chứng sinh và đặt tên cho con là Bùi Minh Tr.

Sau khi ly hôn với anh D thì chị Ch đăng ký kết hôn với anh C vào ngày 20/12/2023 tại Ủy ban nhân dân xã HK, huyện V, tỉnh Nam Định nay là Ủy ban nhân dân xã HK, tỉnh Ninh Bình và cùng chính thức sống chung với nhau. Tuy nhiên, vì chị Ch đang trong thời gian chung sống là vợ chồng hợp pháp với anh D thì lại có quan hệ tình cảm nam nữ với anh C, nên nhiều khi anh C nghi ngờ rằng cháu T không phải con của anh C. Chị Ch đã tiến hành xét nghiệm ADN giữa chị và cháu T, giữa cháu T và anh C để chứng minh huyết thống. Chị cũng đã liên hệ với anh D để yêu cầu anh D hợp tác làm giấy khai sinh cho cháu T nhưng anh D không đồng ý và gây khó dễ cho chị. Anh D lại cho rằng cháu T được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của chị và anh D nên cháu T là con của anh D. Anh C cho rằng cháu T không phải con anh ấy. Đến nay, chị Ch không làm được giấy khai sinh cho cháu T với lý do cháu T được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân với anh D nhưng lại là con của anh C. Nay, chị đề nghị xem xét, giải quyết những vấn đề sau:

- Xác định anh Bùi Huy C, sinh ngày 23/6/1997; địa chỉ: thôn L, xã HK, tỉnh Ninh Bình; số CCCD: xxxxxxxxxxxx do Bộ công an cấp ngày 15/8/2022 là cha đẻ của con có tên dự kiến là Bùi Minh Tr, sinh ngày 20/8/2022.

- Anh Bùi Huy C có trách nhiệm, nghĩa vụ của người cha theo quy định pháp luật đối với con có tên dự kiến Bùi Minh Tr.

- Chị và anh Bùi Huy C được quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để khai báo hộ tịch, đăng ký khai sinh cho cháu Bùi Minh Tr.

- Anh Nguyễn Văn D không phải cha đẻ của cháu Bùi Minh Tr và anh Nguyễn Văn D không có trách nhiệm, nghĩa vụ của người cha theo quy định pháp luật đối với cháu Bùi Minh Tr.

Chị Ch đề nghị xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử các cấp của Tòa án.

2. Tại bản tự khai ngày 28/11/2025 và đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là anh Bùi Huy C trình bày:

Anh C có quen biết chị Ch vào khoảng năm 2020, khi đó anh không biết chị Ch đã có chồng, con. Anh C nảy sinh quan hệ tình cảm và có quan hệ tình dục với chị Ch vào khoảng gần cuối năm 2021. Sau đó thì chị Ch báo là đã có thai với anh và thừa nhận đã có chồng, con ở Sơn La. Anh C nghi ngờ vì cho rằng chị Ch đang úp sọt, lừa dối anh nên anh C đã từ chối nhận thai trong bụng chị Ch là con anh. Đến ngày 20/8/2022 thì chị Ch sinh con thì anh cũng đến để hỗ trợ và giúp đỡ, chăm sóc chị Ch trong thời gian sinh nở. Cuối năm 2023, chị Ch và anh D đã giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La. Sau đó thì anh và chị Ch có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/12/2023 tại Ủy ban nhân dân xã HK, huyện V, tỉnh Nam Định. Anh và chị Ch đã tiến hành xét nghiệm ADN với cháu T để chứng minh huyết thống đồng thời liên hệ với anh D để làm khai sinh cho cháu T có tên bố là Bùi Huy C nhưng anh D không đồng ý hợp tác. Đến nay, anh C không làm được giấy khai sinh cho cháu T với lý do cháu T được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân với anh D nhưng lại là con của anh C.

Vì vậy, anh C đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị Ch như đã nêu trên và xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử các cấp của Tòa án.

3. Tại biên bản xác minh của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Sơn La, thể hiện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn D từ chối làm việc, không ký nhận văn bản tố tụng với lý do: “Anh đã ly hôn với chị Ch và hiện không liên quan đến việc kiện tụng tìm cha con.”. Anh D biết Tòa án nhân dân khu vực 8 – Ninh đang thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng và anh D không đến Tòa án làm việc theo thông báo, triệu tập của Tòa án.

4. Tại các phiếu kết quả xét nghiệm ADN số KQ20M890924 và KQ20B890924 ngày 10/10/2025 của Công ty TNHH dịch vụ khoa học kỹ thuật GenPro, địa chỉ: 38M3 Trần Kim Xuyến, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội đã kết luận: Người có mẫu ghi tên Đặng Linh Ch có quan hệ huyết thống mẹ - con với người có mẫu gi tên Bùi Minh Tr với độ tin cậy > 99,9999%; Người có mẫu ghi tên Bùi Huy C có quan hệ huyết thống cha - con với người có mẫu gi tên Bùi Minh Tr với độ tin cậy > 99,9999%.

5. Tại biên bản thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã HK, tỉnh Ninh Bình: Hiện nay chị Ch và anh C đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã HK, tỉnh Ninh Bình, chủ hộ là bà Vũ Thị Bắc. Ngoài ra, trong hộ bà Bắc còn có một cháu nhỏ tên là Bùi Minh Tr, sinh ngày 20/8/2022. Tuy nhiên, cháu T chưa được nhập khẩu vào hộ bà Bắc vì chưa có giấy khai sinh. Chị Ch và anh C kết hôn với nhau vào ngày 20/12/2023 tại Ủy ban nhân dân xã HK, huyện V, tỉnh Nam Định nay là xã HK, tỉnh Ninh Bình. Gia đình và anh em họ hàng có tổ chức lễ cưới cho anh C và chị Ch theo tập quán của địa phương vào khoảng cuối năm 2023. Theo địa phương được biết, chị Ch và anh C có quan hệ tình cảm với nhau dẫn đến có thai trước hôn nhân. Cháu T là con đẻ của anh C nhưng do sinh trong thời gian đang có hôn nhân với người chồng trước nên không thể đăng ký khai sinh cho cháu T có tên cha đẻ là anh C được. Vì vậy, để tạo điều kiện tốt nhất, cho cháu T được làm giấy khai sinh theo quy định của pháp luật, địa phương đề nghị Tòa án xác định rõ cha cho cháu T theo quy định của pháp luật.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Ninh Bình căn cứ vào Điều 21, khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 97 và Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhận xét đánh giá về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự còn người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Điều 88, Điều 101 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Linh Ch.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho các đương sự theo điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyết giải quyết: Chị Đặng Linh Ch có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết xác định anh Bùi Huy C là cha đẻ của cháu Bùi Minh Tr. Xét thấy, tranh chấp giữa chị Ch và anh C là tranh chấp về xác định cha cho con chưa thành niên theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Ch và anh C, cháu T đều đăng ký thường trú và cư trú tại xã HK, tỉnh Ninh Bình nên căn cứ Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 8 - Ninh Bình.

Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có ý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Ch, anh C và anh D theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị Ch, anh C đều thừa nhận có quan hệ tình cảm yêu đương với nhau trong thời gian chị Ch đang sống ly thân với anh D (Khi đó anh D đang là chồng hợp pháp của chị Ch). Chị Ch và anh C cùng xác định cháu Bùi Minh Tr, sinh ngày 20/8/2022 là con đẻ của anh C. Lời khai của chị Ch và anh C phù hợp với kết quả xét nghiệm tại phiếu kết quả xét nghiệm ADN số KQ20M890924 và KQ20B890924 ngày 10/10/2025 của Công ty TNHH dịch vụ khoa học kỹ thuật GenPro, địa chỉ: 38M3 Trần Kim Xuyến, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội đã kết luận: Người có mẫu ghi tên Đặng Linh Ch có quan hệ huyết thống mẹ - con với người có mẫu ghi tên Bùi Minh Tr với độ tin cậy > 99,999999% và người có mẫu ghi tên Bùi Huy C có quan hệ huyết thống cha - con với người có mẫu gi tên Bùi Minh Tr với độ tin cậy > 99,999999%. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 88 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Linh Ch. Xác định anh Bùi Huy C là cha đẻ của cháu Bùi Minh Tr, sinh ngày 20/8/2022, giới tính: Nam, địa chỉ nơi ở hiện nay: Thôn L, xã HK, tỉnh Ninh Bình (Theo giấy chứng sinh số 26, quyển số 03 do Bệnh viện Phụ sản Nam Định cấp ngày 29/8/2025); anh Bùi Huy C có những quyền và nghĩa vụ cha – con đối với cháu Bùi Minh Tr theo quy định pháp luật, anh Nguyễn Văn D không phải cha đẻ của cháu Bùi Minh Tr nên không có những quyền và nghĩa vụ cha – con đối với cháu Bùi Minh Tr.

Về án phí: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn và bị đơn thuộc trường hợp miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 88, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Linh Ch. Cụ thể:

- Xác định anh Bùi Huy C, sinh ngày 23/6/1997; Địa chỉ: thôn L, xã HK, tỉnh Ninh Bình; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx do Bộ công an cấp ngày 15/8/2022 là cha đẻ của cháu Bùi Minh Tr, sinh ngày 20/8/2022, giới tính: Nam, địa chỉ nơi ở hiện nay: Thôn L, xã HK, tỉnh Ninh Bình (Theo giấy chứng sinh số 26, quyển số 03 do Bệnh viện Phụ sản Nam Định cấp ngày 29/8/2025).

- Anh Bùi Huy C có trách nhiệm, nghĩa vụ của người cha theo quy định pháp luật đối với con có tên dự kiến Bùi Minh Tr.

- Chị Đặng Linh Ch và anh Bùi Huy C được quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để khai báo hộ tịch, đăng ký khai sinh cho cháu Bùi Minh Tr.

- Anh Nguyễn Văn D không phải cha đẻ của cháu Bùi Minh Tr và anh Nguyễn Văn D không có trách nhiệm, nghĩa vụ của người cha theo quy định pháp luật đối với cháu Bùi Minh Tr.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn nộp tiền án phí cho chị Đặng Linh Ch và anh Bùi Huy C.

3. Quyền kháng cáo: Chị Đặng Linh Ch, anh Bùi Huy C, anh Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ