vanban.org

Bản án 07/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng X – Chủ hộ kinh doanh T.

Buộc ông Nguyễn Văn N và bà Lương Út E có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Hoàng X – Chủ hộ kinh doanh T số tiền 153.935.000 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "TQM - Nguyễn Văn N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng X – Chủ hộ kinh doanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2026/DS-ST
Ngày 08 - 01 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Dũng Liêm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

Ông Nguyễn Việt Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thêu là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 386/2025/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 569/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng X – Chủ hộ kinh doanh T. Địa chỉ: Ấp T, xã P, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ M, sinh năm 1999 (có mặt).

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Số B, ấp B, phường L, tỉnh Cà Mau.

Theo văn bản ủy quyền ngày 13/10/2025.

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.

2. Bà Lương Út E, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.

Cùng địa chỉ: Ấp X, xã P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện nguyên đơn trình bày:

Năm 2024, Hộ kinh doanh T (viết tắt Tân Quang M1) và ông N, bà Ú giao kết hợp đồng mua bán ký ngày 06/02/2024, theo đó Tân Quang M1 bán thức ăn nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú mang nhãn hiệu Việt H, G và các nhãn hiệu khác cùng với thuốc, hoá chất cho nuôi trồng thuỷ sản theo số lượng đặt hàng của ông N, bà E để ông bà nuôi tôm đến cuối vụ thanh toán dứt điểm cho Tân Quang M1.

Trong quá trình giao dịch, bị đơn không thực hiện trả đúng theo thỏa thuận mà hai bên thống nhất nên hai bên ngưng giao dịch. Ngày 30/5/2025, ông N ký bảng đối chiếu công nợ xác nhận còn nợ Tân Quang M1 số tiền là 145.217.000 đồng. Tân Quang M1 đã liên hệ làm việc yêu cầu thanh toán số công nợ trên nhưng ông N, bà Ú vẫn không có thiện chí thanh toán số tiền nợ gây khó khăn và thiệt hại cho Tân Quang M1.

Nay nguyên đơn yêu cầu cầu ông N, Em phải liên đới thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Hoàng X – Chủ hộ kinh doanh T số tiền là 145.217.000 đồng và tiền lãi tính từ 01/06/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm là: 145.217.000 đồng x 0,83%/tháng x 07 tháng 07 ngày = 8.718.000 đồng. Tổng số tiền là 153.935.000 đồng.

Bị đơn bà E trình bày: Bà thống nhất có ký hợp đồng mua bán thức ăn với Tân Quang M1, quá trình mua bán bà còn nợ số tiền gốc là 145.217.000 đồng và đồng ý trả, tuy nhiên do điều kiện bà yêu cầu được trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, không đồng ý trả lãi. Bị đơn ông N trình bày: Ông thống nhất với ý kiến của bà E, thống nhất số tiền còn nợ Tân Quang M1 là 145.217.000 đồng, ông đồng ý trả số tiền này nhưng yêu cầu được trả dần, không đồng ý trả lãi. Lý do ông không trả được nợ là do phía nguyên đơn ngưng cung cấp thức ăn cho ông, do quá trình nuôi tôm bị lỗ nên trả không đầy đủ chứ không trả tiền như nguyên đơn trình bày, phía nguyên đơn không đến thu tiền nên bị đơn không trả được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự là đúng quy định.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng mua bán thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền 145.217.000 đồng: Yêu cầu này là phù hợp hợp đồng mua bán ngày 06/02/2024, phù hợp với Bảng đối chiếu công nợ tháng 5/2025 thể hiện bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 145.217.000 đồng. Theo đại diện nguyên đơn trình bày, sau khi đối chiếu công nợ thì bị đơn không thanh toán nợ theo thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả số nợ trên. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn thống nhất số tiền còn nợ và đồng ý trả, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa bị đơn yêu cầu được trả dần, đại diện nguyên đơn xác định sẽ thỏa thuận phương thức trả nợ tại giai đoạn thi hành án. Xét thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả toàn bộ số tiền nợ nêu trên là phù hợp với quy định pháp luật, được chấp nhận.

Xét yêu cầu tính lãi suất chậm thanh toán:

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất chậm thanh toán là đúng quy định theo Điều 440 Bộ luật Dân sự. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi tính từ 01/06/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 08/01/2026 là: 145.217.000 đồng x 0,83%/tháng x 07 tháng 07 ngày = 8.718.000 đồng. Mức lãi suất nguyên đơn yêu cầu không vượt quá quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 153.935.000 đồng, trong đó tiền gốc là 145.217.000 đồng, tiền lãi là 8.718.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Nguyên đơn không phải chịu, được nhận lại toàn bộ số tiền đã dự nộp.

- Bị đơn phải chịu 7.696.750 đồng.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430, 433, 440, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng X – Chủ hộ kinh doanh T.

Buộc ông Nguyễn Văn N và bà Lương Út E có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Hoàng X – Chủ hộ kinh doanh T số tiền 153.935.000 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu khoản lãi phát sinh tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Hoàng X – Chủ hộ kinh doanh T không phải chịu, hoàn trả lại cho ông Nguyễn Hoàng X – Chủ hộ kinh doanh T 3.765.000 đồng (Ba triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002867 ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.

- Ông Nguyễn Văn N và bà Lương Út E phải chịu 7.696.750 đồng (Bảy triệu sáu trăm chín mươi sáu nghìn bảy trăm năm mươi đồng), chưa nộp.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ