- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng V - Đỗ Danh B - Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/DS-ST Ngày: 12-5-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Chúc Ngân
Bà Cao Thị Kim Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Việt Dũng là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường A - Toà án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 91/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 183/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V1
Trụ sở chính: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T - Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ KHCN và Xử lý nợ pháp lý (theo văn bản ủy quyền số 38a/2024/UQN-CTQT ngày 01/6/2024)
Đại diện theo ủy quyền lại: Anh Lê Hoàng V - chức vụ: Chuyên viên (theo văn bản ủy quyền số 37/2025/UQN-VPB ngày 21/02/2025).
Địa chỉ: Số B khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Danh B, sinh năm 1981
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Hồng G, sinh năm 1991.
Cùng địa chỉ: Ấp I, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Tất cả các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 9 năm 2024, những lời khai tiếp theo và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - Ngân hàng TMCP V1 (do ông Lê Hoàng V đại diện) trình bày:
Ngày 27/4/2022, vợ chồng ông Đỗ Danh B và bà Phạm Hồng G do ông B đại diện ký kết với Ngân hàng TMCP V1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng cho vay số LN2204195606215 để vay số tiền là 455.000.000đ (Bốn trăm năm mươi lăm triệu đồng), thời hạn vay là 96 tháng, lãi suất vay là 9,5%/năm, lãi suấ quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay là thanh toán tiền mua xe ô tô.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là một xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi, loại Xpander GLX, số máy 4A91KAG0311, số khung MK2LNNC1WLN009278, biển số 60K-105.15 do ông Đỗ Danh B đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mà ông B, bà G đã thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số LN2204195606215 ngày 27/4/2022.
Đến ngày 16/4/2023 ông B và bà G đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền nợ gốc là 47.400.244đ (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm nghìn hai trăm bốn mươi bốn đồng) và số tiền lãi là 36.327.451đ (Ba mươi sáu triệu ba trăm hai mươi bảy nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng) sau đó ngưng không thanh toán cho đến nay nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay còn lại sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 12/5/2025, ông B và bà G còn nợ của Ngân hàng tổng số tiền là 604.949.745đ (Sáu trăm lẻ bốn triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn bảy trăm bốn mươi lăm đồng); trong đó, số tiền nợ gốc là 407.599.756đ (Bốn trăm lẻ bảy triệu năm trăm chín mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi sáu đồng) và số tiền nợ lãi là 197.349.989đ (Một trăm chín mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm tám mươi chín đồng). Ngân hàng yêu cầu ông B và bà G có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ trên cho Ngân hàng và tiếp tục trả khoản lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho Ngân hàng.
Trường hợp ông B, bà G không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng thì đề nghị phát mãi tài sản bảo đảm trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Ngoài ra, Ngân hàng không có yêu cầu gì khác.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - ông Đỗ Danh B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Phạm Hồng G đều vắng mặt và không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không rõ lý do) nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiếp tục xét xử vụ kiện.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Đỗ Danh B và bà Phạm Hồng G có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ (gồm gốc và lãi) tính đến ngày 12/5/2025 là 604.949.745đ (Sáu trăm lẻ bốn triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn bảy trăm bốn mươi lăm đồng) và tiếp tục trả khoản lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho Ngân hàng.
Trường hợp ông Đỗ Danh B, bà Phạm Hồng G không thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo là một xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI, biển số đăng ký 60K-105.15, số khung MK2LNNC1WLN009278, số máy 4A91KAG0311, tên chủ xe Đỗ Danh B theo Hợp đồng thế chấp số LN2204195606215 ngày 27/4/2022 được ký kết giữa ông B, bà G và Ngân hàng để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng.
Buộc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
- Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả số tiền nợ gốc và lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay được ký kết giữa các bên. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Theo kết quả xác minh, bị đơn có hộ khẩu thường trú và hiện sinh sống tại xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, tất cả các đương sự mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không rõ lý do). Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ kiện theo thủ tục chung.
Về thời hiệu khởi kiện: Hợp đồng cho vay được ký kết giữa các bên từ ngày 27/4/2022, với thời hạn vay là 96 tháng. Kể từ ngày 16/4/2023, ông B và bà G đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ với Ngân hàng. Đến ngày 21/10/2024, Ngân hàng khởi kiện đến Tòa án là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự.
Về đánh giá chứng cứ: Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn đã nộp kèm theo đơn khởi kiện gồm: Hợp đồng cho vay số LN2204195606215; Hợp đồng thế chấp số LN2204195606215 và Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ cùng ngày 27/4/2022, Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng … Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì đối với các tài liệu này. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, … mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”, do đó đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Như vậy, nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu thanh toán nợ (gốc và lãi): Ngày 27/4/2022, Ngân hàng cho ông B, bà G vay số tiền là 455.000.000đ (Bốn trăm năm mươi lăm triệu đồng), thời hạn vay là 96 tháng, lãi suất vay là 9,5%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn; Mục đích vay là thanh toán tiền mua xe ô tô; thời hạn và phương thức thanh toán thỏa thuận trả nợ gốc khi đến hạn và lãi 01 tháng/lần vào ngày 15 theo Hợp đồng cho vay số LN2204195606215 ngày 27/4/2022 đã ký kết giữa các bên.
Các bên khi tham gia giao kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, hợp đồng được lập thành văn bản, có chữ ký của các bên và thỏa thuận về nội dung của hợp đồng ghi rõ về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, thời hạn thanh toán. Như vậy, điều kiện về nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, các bên tự nguyện tham gia ký kết, không bị ai ép buộc. Hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật, vì vậy các bên tham gia giao kết hợp đồng phải thực hiện quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận.
Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 16/4/2023 ông B và bà G mới chỉ thanh toán cho Ngân hàng được số tiền nợ gốc là 47.400.244đ (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm nghìn hai trăm bốn mươi bốn đồng) và số tiền lãi là 36.327.451đ (Ba mươi sáu triệu ba trăm hai mươi bảy nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng). Ngoài ra, ông B và bà G không thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào khác nên đã vi phạm thời hạn trả nợ gốc và lãi theo kỳ hạn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án (như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo giao nộp tài liệu chứng cứ; Thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, …) cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Mặc dù bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn còn sinh sống tại địa phương (BL 99) nhưng không hợp tác đến Tòa án làm việc cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nộp cho Tòa án nên không có cơ sở để xem xét.
Lời khai của nguyên đơn về quá trình thỏa thuận và thực hiện hợp đồng cho vay, theo quy định Điều 466 Bộ luật Dân sự và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông B, bà G có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 12/5/2025 là 604.949.745đ (Sáu trăm lẻ bốn triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn bảy trăm bốn mươi lăm đồng) và tiếp tục trả khoản lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho Ngân hàng là có căn cứ nên được chấp nhận.
Xét Hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp số LN2204195606215 ngày 27/4/2022 được ký kết giữa các bên đối với tài sản đảm bảo là một xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI, biển số đăng ký 60K-105.15, số khung MK2LNNC1WLN009278, số máy 4A91KAG0311, tên chủ xe Đỗ Danh B theo Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh.
Tài sản thế chấp được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên được xác định là tài sản chung của ông B, bà G và ông B, bà G đã đồng ý thế chấp việc thế chấp hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp, hợp đồng thế chấp được lập bằng văn bản các bên chủ thể tham gia giao kết là người có thẩm quyền, cùng thống nhất về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm đầy đủ đúng theo quy định của pháp luật.
Do đó, trường hợp ông B, bà G không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành các thủ tục xử lý tài sản nêu trên để thu hồi nợ là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 117, 119, 292, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 429, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 91; Điều 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Áp dụng Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP V1, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn - ông Đỗ Danh B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Phạm Hồng G.
1. Buộc ông Đỗ Danh B và bà Phạm Hồng G có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V1 số tiền nợ tính đến ngày 12/5/2025 là 604.949.745đ (Sáu trăm lẻ bốn triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn bảy trăm bốn mươi lăm đồng); trong đó, số tiền nợ gốc là 407.599.756đ (Bốn trăm lẻ bảy triệu năm trăm chín mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi sáu đồng) và số tiền nợ lãi là 197.349.989đ (Một trăm chín mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm tám mươi chín đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Đỗ Danh B và bà Phạm Hồng G còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông B, bà G phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp ông Đỗ Danh B, bà Phạm Hồng G không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng để thu hồi nợ đối với một xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI, biển số đăng ký 60K-105.15, số khung MK2LNNC1WLN009278, số máy 4A91KAG0311, tên chủ xe Đỗ Danh B theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cấp ngày 05/5/2022.
Trường hợp đã xử lý hết tài sản thế chấp nêu trên mà vẫn chưa thu hồi hết khoản nợ thì ông Đỗ Danh B, bà Phạm Hồng G tiếp tục phải có trách nhiệm thanh toán hết số tiền nợ còn lại cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
2. Về án phí:
- Ông Đỗ Danh B, bà Phạm Hồng G phải chịu số tiền 28.197.989đ (Hai mươi tám triệu một trăm chín mươi bảy nghìn chín trăn tám mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.628.000đ (Mười hai triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008390 ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Thống Nhất; - CCTHADS huyện Thống Nhất; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thùy Trang |