- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... — án lao động — "Huỳnh Minh H + 4NĐ - Công ty Cổ phần Mía đường S"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần Mía đường S.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/LĐ-PT Ngày 29/7/2025 V/v tranh chấp quyền, lợi ích liên quan đến tiền lương |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lâm;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Vĩnh Khương;
Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trầm Thị Phương Hằng, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Bảo, Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ, số 01, Đường 30/4, phường Phú Lợi, Thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2025/TLPT-LĐ ngày 18 tháng 6 năm 2025, về tranh chấp quyền, lợi ích liên quan đến tiền lương.
Do Bản án lao động sơ thẩm số 11/2025/LĐ-ST ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 343/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Huỳnh Minh H;
Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp M, phường M, Thành phố Cần Thơ). (vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Hữu H1;
Địa chỉ: Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang). (vắng mặt)
3. Ông Hồ Văn Th;
Địa chỉ: Số 249/7, đường T, Phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là số 249/7, đường T, phường P, Thành phố Cần Thơ). (vắng mặt)
4. Ông Trần Thanh Tr;
Địa chỉ: Số 159, đường D, khóm 7, Phường 2, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là số 159, đường D, khóm 7, phường P, Thành phố Cần Thơ). (vắng mặt)
5. Ông Nguyễn Văn Ph;
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp C, xã T, Thành phố Cần Thơ). (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Đ; địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp A, xã A, Thành phố Cần Thơ); địa chỉ liên hệ: Số 41, đường N, khóm 1, Phường 2, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là số 41, đường N, khóm 1, phường P, Thành phố Cần Thơ); là người đại diện theo uỷ quyền của các nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 01/7/2024). (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, Luật sư của Văn phòng Luật sư T - Chi nhánh S, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Cần Thơ; địa chỉ: Số 367/45, Quốc lộ A, khóm 1, Phường 6, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là số 367/45, Quốc lộ A, khóm 1, phường S, Thành phố Cần Thơ). (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Mía đường S;
Địa chỉ trụ sở: Số 845, đường P, Phường 8, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là số 845, đường P, phường S, Thành phố Cần Thơ).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Ngọc H2; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc; địa chỉ làm việc: Số 845, đường P, Phường 8, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là số 845, đường P, phường S, Thành phố Cần Thơ); là người đại diện theo pháp luật của bị đơn. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Người kháng cáo: Công ty Cổ phần Mía đường S - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng ngày 20 tháng 9 năm 2014 của các nguyên đơn ông Huỳnh Minh H, Nguyễn Hữu H1, Hồ Văn Th, Trần Thanh Tr, Nguyễn Văn Ph và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc Đ trình bày:
Các ông Huỳnh Minh H, Nguyễn Hữu H1, Hồ Văn Th, Trần Thanh Tr và Nguyễn Văn Ph là người lao động của Công ty cổ phần Mía đường S (sau đây gọi tắt là Công ty). Ngày 30/9/2016, Công ty cổ phần Mía đường S và Công đoàn cơ sở của Công ty có ký Thỏa ước lao động tập thể tại Điều 5 là “Công ty áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm (đơn giá theo kế hoạch được Đại hội đồng cổ đông hàng năm thông qua). Tiền lương người lao động được đảm bảo chi trả đúng quy chế thanh toán tiền lương, tiền thưởng của Công ty” và đơn giá tiền lương mỗi tấn sản phẩm của vụ đường năm 2017-2018 là 800.000 đồng.
Theo Điều 2 của Quy chế tiền lương, tiền thưởng do Hội đồng quản trị Công ty ban hành kèm theo Quyết định số 43/QĐ-HĐQT ngày 27/12/2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, sau đây viết là Quy chế tiền lương) quy định “Quỹ tiền lương gắn liền với hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty nên thu nhập của người lao động có thể thay đổi theo từng tháng hoặc kỳ sản xuất dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh được Tổng Giám đốc giao cho từng đơn vị hoặc cá nhân” và theo các hợp đồng lao động đã ký kết thì Công ty trả lương cho công nhân theo sản phẩm, từ đó tiền lương phụ thuộc vào sản lượng đường làm ra.
Vụ mùa sản xuất, kinh doanh 2016-2017, Công ty còn thừa quỹ lương 715.002.892 đồng. Kết thúc mùa vụ sản xuất, kinh doanh 2017-2018 (từ ngày 01/7/2017 đến ngày 30/6/2018), Công ty đạt sản lượng 45.538,45 tấn đường nhập kho, đơn giá tiền lương mỗi tấn 800.000 đồng nên quỹ lương trích trong vụ này là 36.430.760.000 đồng (45.538,45 tấn x 800.000 đồng/tấn). Trong mùa vụ 2017-2018, Công ty đã chi tiền lương 12 tháng cho người lao động hết 24.520.252.317 đồng, chi thưởng hết 3.005.918.800 đồng nên Công ty còn thừa quỹ tiền lương là 9.619.591.775 đồng, nhưng không chi trả cho người lao động mà Hội đồng Quản trị lại ban hành Nghị quyết số 05 ngày 04/01/2019 để hoàn nhập số tiền này giảm lỗ cho mùa vụ sản xuất, kinh doanh 2018-2019, sau đó là Nghị quyết số 45 ngày 15/5/2019 đã bổ sung số tiền trên vào quỹ lương của mùa vụ 2018-2019. Việc sử dụng quỹ lương như trên là trái với Thỏa ước lao động tập thể và Quy chế tiền lương.
Nay các ông yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc Công ty cổ phần Mía đường S chi trả quỹ lương còn thừa là 8.904.588.883 đồng (9.619.591.775 đồng - 715.002.892 đồng) của mùa vụ sản xuất kinh doanh 2017-2018, theo tỷ lệ mức lương của từng người được hưởng tại thời điểm tháng 6/2018 với tổng số tiền là 119.863.063 đồng, cụ thể từng người như sau:
Ông Huỳnh Minh H: Tiền lương hàng tháng 4.297.000 đồng, số tháng lương được hưởng 5,75 tháng, thành tiền 24.707.750 đồng.
Ông Nguyễn Hữu H1: Tiền lương hàng tháng 4.136.000 đồng, số tháng lương được hưởng 5,75 tháng, thành tiền 23.782.000 đồng.
Ông Hồ Văn Th: Tiền lương hàng tháng 4.740.000 đồng, số tháng lương được hưởng 5,75 tháng, thành tiền 27.255.000 đồng.
Ông Trần Thanh Tr: Tiền lương hàng tháng 4.840.000 đồng, số tháng lương được hưởng 5,75 tháng, thành tiền 27.830.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn Ph: Tiền lương hàng tháng 3.777.000 đồng, số tháng lương được hưởng 5,75 tháng, làm việc trong 09 tháng, thành tiền [3.777.000 đồng x 5,75 x (9/12)] = 16.288.313 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty cổ phần Mía đường S trình bày:
Thời hiệu khởi kiện của các nguyên đơn đã hết theo quy định khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Lao động năm 2019, khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phải đình chỉ giải quyết vụ án.
Đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc yêu cầu thanh toán khoản tiền thừa của quỹ lương 8.904.588.883 đồng của mùa vụ sản xuất, kinh doanh 2017-2018 là không có cơ sở.
Căn cứ Điều 5 Thỏa ước lao động ngày 30/9/2016 và Điều 10.3 của Quy chế thanh toán tiền lương, tiền thưởng ban hành kèm theo Quyết định số 43/QĐ-HĐQT ngày 27/12/2017, Công ty nhận thấy không có bất kỳ cơ sở, nội dung nào thể hiện một cách minh thị rằng Công ty buộc phải thanh toán cho người lao động phần tiền còn lại của quỹ lương mùa vụ sản xuất kinh doanh 2017-2018 là 8.904.588.883 đồng. Điều 5 Thỏa ước lao động ngày 30/9/2016 quy định: “Công ty áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm (đơn giá theo kế hoạch được Đại hội đồng cổ đông hàng năm thông qua). Tiền lương người lao động được đảm bảo chi trả đúng Quy chế thanh toán tiền lương, tiền thưởng của công ty”. Điều 10.3 của Quy chế lương năm 2017 quy định: Trường hợp phát sinh tiền thừa của quỹ lương, “Tổng Giám đốc sẽ quyết định chi hết trong thời gian theo quy định đảm bảo chi phí được trừ khi xác định thuế Thu nhập doanh nghiệp”. Theo đó, bao gồm quy định tại Điều 10.3 và các điều khoản khác của Quy chế, không có bất kỳ nội dung nào cho rằng Công ty buộc phải thanh toán hết phần tiền còn lại của quỹ lương cho người lao động trong vụ sản xuất tương ứng cùng công thức, cách tính ra số tiền tương ứng chi tương ứng.
Xét tính chất của quỹ lương trong hoạt động của Công ty, thực tế, tính từ thời điểm thành lập công ty ngày 02/02/1996 cho đến nay, Công ty luôn quán triệt và sử dụng quỹ lương theo bản chất là một nguồn tiền để hỗ trợ Công ty cân đối dòng tiền nhằm mục đích chi lương, chi thưởng, phụ cấp, trợ cấp và chi phí khác cho người lao động như được quy định theo Điều 10.2 của Quy chế tiền lương 2017, mà không là khoản tiền lương để buộc chi hết cho toàn thể người lao động tại cuối bất kỳ vụ sản xuất cụ thể nào. Bên cạnh đó, các nguyên đơn yêu cầu Công ty phải trả tiền cho các nguyên đơn thì các khoản tiền này sẽ được xác định là khoản tiền nào theo Quy chế lương và hệ số để tính lương là như thế nào. Vì nếu xét tính chất tiền lương, các khoản tiền này không có tính chất tiền lương do vượt quá hạn mức tiền lương được Công ty thỏa thuận với người lao động tại hợp đồng lao động, đồng thời mỗi nguyên đơn có thời gian tham gia quan hệ lao động tại Công ty khác nhau nên hệ số tính lương sẽ áp dụng như thế nào. Công ty đã trả lương đầy đủ, đúng hạn cho người lao động tương ứng với thời gian làm việc của mỗi người. Nếu xét tính chất tiền thưởng, trong mùa vụ 2017-2018, Công ty đã chi thưởng cho người lao động với mức thưởng lên đến 02 tháng tiền lương và đến nay, Công ty chưa từng có quyết định hoặc chính sách nào nhằm tuyên bố rằng Công ty sẽ tiếp tục chi thưởng từ khoản tiền của quỹ lương. Do đó, việc các nguyên đơn yêu cầu Công ty phải tiếp tục chi những khoản tiền không rõ cơ sở, tính chất là đi ngược lại với nguyên tắc sử dụng quỹ tiền lương của Công ty, buộc Công ty phải đưa ra những khoản chi vượt hạn mức, gây thiệt hại nghiêm trọng cho Công ty.
Không có cơ sở cho phương thức chia và phân bổ số tiền thừa của quỹ lương mùa vụ 2017-2018 cho từng nguyên đơn. Qua rà soát các tài liệu, văn bản của Công ty ở giai đoạn mùa vụ 2017-2018, Công ty khẳng định không có bất kỳ cơ sở, nội dung nào thể hiện một cách minh thị về phương thức chia và phân bổ số tiền thừa của quỹ lương mùa vụ 2017-2018 cho từng nguyên đơn, cụ thể: Thứ nhất, hợp đồng lao động của từng người lao động, Quy chế lương năm 2017 và Thỏa ước lao động không có bất kỳ quy định nào thể hiện phương thức chia và phân bổ số tiền thừa của quỹ lương từng vụ cho toàn thể người lao động của Công ty. Thứ hai, căn cứ theo hợp đồng lao động của từng người lao động đã ký với Công ty cũng như thực tế thực hiện hợp đồng lao động của mỗi người lao động thì mỗi người lao động sẽ có sự khác nhau về thời gian làm việc, mức lương, hệ số lương, phụ cấp và hình thức trả lương. Do vậy, Công ty không thể áp dụng việc chia và phân bổ số tiền thừa của quỹ lương mùa vụ 2017-2018 khi không có cơ sở, tính chất và cũng không có hướng dẫn về việc chia (hay phân bổ) số tiền này.
Tại Bản án số 11/2025/LĐ-ST ngày 25/4/2025, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ) đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 95, khoản 1 Điều 244, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Buộc Công ty cổ phần Mía đường S thanh toán quỹ tiền lương 8.904.588.883 đồng còn thừa của vụ sản xuất 2017-2018 (từ ngày 01/7/2017 đến ngày 30/6/2018) cho ông Huỳnh Minh H số tiền 24.707.750 đồng, ông Nguyễn Hữu H1 số tiền 23.782.000 đồng, ông Hồ Văn Th số tiền 27.255.000 đồng, ông Trần Thanh Tr số tiền 27.830.000 đồng và ông Nguyễn Văn Ph số tiền 16.288.313 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 09/5/2025, Công ty cổ phần Mía đường S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn không có đơn rút lại đơn khởi kiện; người đại diện hợp pháp của bị đơn không có đơn rút kháng cáo và các đương sự cũng không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đối với yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần Mía đường S là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận và áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự vắng mặt của người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc Đ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn là ông Nguyễn Văn N và người đại diện hợp pháp của bị đơn là ông Trần Ngọc H2: Các ông đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất để tham gia phiên tòa phúc thẩm, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt các ông.
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của Công ty cổ phần Mía đường S đảm bảo về mặt hình thức và nội dung, đúng người có quyền kháng cáo, còn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên hợp lệ, đủ điều kiện để giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của Công ty cổ phần Mía đường S, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Trong quá trình giải quyết vụ án, phía Công ty cổ phần Mía đường S đều xác nhận các các ông Huỳnh Minh H, Nguyễn Hữu H1, Hồ Văn Th, Trần Thanh Tr và Nguyễn Văn Ph là người lao động của Công ty, lĩnh lương hàng tháng trong mùa vụ sản xuất kinh doanh 2017-2018. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tình tiết mà các nguyên đơn không phải chứng minh.
Theo các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp đã thể hiện, mùa vụ sản xuất kinh doanh 2016-2017, Công ty còn thừa quỹ tiền lương là 715.002.892 đồng; mùa vụ sản xuất kinh doanh 2017-2018, Công ty đạt sản lượng 45.538,45 tấn đường nhập kho, đơn giá tiền lương mỗi tấn 800.000 đồng, quỹ lương trích trong vụ này là 36.430.760.000 đồng, đã chi trả tiền lương 12 tháng cho toàn thể người lao động hết 24.520.252.317 đồng, chi thưởng hết 3.005.918.800 đồng, còn lại 9.619.591.775 đồng (trong đó có 715.002.892 đồng của mùa vụ sản suất kinh doanh 2016-2017 chuyển qua). Như vậy, có căn cứ xác định số tiền quỹ lương còn thừa của mùa vụ sản xuất kinh doanh 2017-2018 của Công ty là 9.619.591.775 đồng - 715.002.892 đồng = 8.904.588.883 đồng.
Điều 5 của Thỏa ước lao động tập thể ngày 30/9/2016 quy định: “Công ty áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm (đơn giá theo kế hoạch được Đại hội đồng cổ đông thường niên hàng năm thông qua). Tiền lương của người lao động được đảm bảo chi trả đúng Quy chế thanh toán tiền lương, thưởng của công ty”. Theo Điều 25 của Quy chế thanh toán tiền lương, thưởng ban hành kèm theo Quyết định số 161/QĐ-TGĐ.2009 ngày 31/8/2009 của Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Mía đường S thì việc xử lý quỹ lương thừa được xác định như sau: “…Hình thức chi theo cách phân phối sản phẩm theo hệ số CBCV + thành tích thi đua cá nhân tại mỗi thời điểm chi thích hợp; Thanh toán hết cho người lao động được hưởng trong thời hạn không quá quy định của pháp luật vào đầu năm sau”. Khoản 3 Điều 10 của Quy chế thanh toán tiền lương, tiền thưởng ban hành kèm theo Quyết định số 43/QĐ-HĐQT.2017 ngày 27/12/2017 (thay thế Quy chế thanh toán tiền lương, tiền thưởng năm 2009) quy định việc xử lý quỹ lương thừa như sau: “…Tổng giám đốc sẽ quyết định chi hết trong thời gian theo quy định đảm bảo chi phí được trừ khi xác định thuế Thu nhập doanh nghiệp”.
Khoản 1, khoản 2 Điều 4; khoản 1 Điều 5 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014, đã được sửa đổi, bổ sung bằng Thông tư số 96/2016/TT-BTC ngày 22/6/2016 của Bộ Tài chính, hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ, quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, thì quỹ tiền lương không thuộc doanh thu để tính thu nhập chịu thuế và không thuộc thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Như vậy, theo Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế thanh toán tiền lương, tiền thưởng nêu trên thì quỹ tiền lương còn lại (còn thừa) của mùa vụ sản xuất kinh doanh 2017-2018 phải được thanh toán cho người lao động tham gia lao động trong mùa vụ sản xuất, kinh doanh này.
Theo phía Công ty cổ phần Mía đường S, Hội đồng quản trị của Công ty ban hành Nghị quyết số 05/NQ-HĐQT.2019 ngày 04/01/2019, trong đó tại mục 11 Điều 1 thể hiện nội dung: “Quỹ lương còn lại của vụ 2017-2018 là 9.619.591.775 đồng, yêu cầu BCH hoàn nhập trong vụ 2018-2019 để giảm lỗ cho công ty”; sau đó ban hành Nghị quyết số 45/NQ-HĐQT ngày 15/5/2019 quy định: “…Thống nhất sử dụng quỹ tiền lương còn lại của năm 2017-2018 là 9.619.591.775 đồng để bổ sung cho quỹ lương năm 2018-2019 để đảm bảo đủ nguồn chi lương cho NLĐ”. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy, các Nghị quyết này ban hành khi gần kết thúc mùa vụ sản xuất kinh doanh 2018-2019 để chi phối quỹ tiền lương của mùa vụ sản xuất kinh doanh 2017-2018 (mùa vụ này đã kết thúc từ ngày 30/6/2018) là không đúng với Thỏa ước lao động tập thể ngày 30/9/2016 và Quy chế thanh toán tiền lương, tiền thưởng ban hành kèm theo Quyết định số 43/QĐ-HĐQT.2017 ngày 27/12/2017.
Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của tất cả các nguyên đơn, lấy quỹ tiền lương còn thừa mùa vụ sản xuất kinh doanh 2017-2018 là 8.904.588.883 đồng chia cho tổng tiền lương thực tế mà Công ty chi trả cho tất cả người lao động vào tháng cuối cùng của mùa vụ này, tức tháng 6/2018 (1.547.373.212 đồng), để từ đó tính ra số lương bình quân mỗi người lao động được hưởng thêm 5,75 tháng, nhân với số tiền lương chính, phụ cấp thâm niên, số tháng thực tế mà các nguyên đơn đã làm việc, cụ thể: Mùa vụ sản xuất, kinh doanh 2017-2018, ông Huỳnh Minh H, ông Nguyễn Hữu H1, ông Trần Thanh Tr, ông Hồ Văn Th làm việc đủ 12 tháng, ông Nguyễn Văn Ph làm việc được 09 tháng nên Công ty phải trả cho ông H 24.707.750 đồng, ông H1 23.782.000 đồng, ông Tr 27.830.000 đồng, ông Th 27.255.000 đồng và ông Ph 16.288.313 đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Công ty cổ phần Mía đường S kháng cáo cho rằng, các nguyên đơn yêu cầu Công ty chi trả quỹ lương còn thừa 8.904 588.883 đồng của mùa vụ sản xuất kinh doanh 2017-2018 cho các nguyên đơn là không có cơ sở, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới, ngoài những văn bản mà Công ty đã nêu viện dẫn trên, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để xem xét và chấp nhận.
Về thời hiệu khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty cho rằng các nguyên đơn yêu cầu Công ty chi trả quỹ lương còn thừa 8.904 588.883 đồng của mùa vụ sản xuất, kinh doanh 2017-2018, mùa vụ này bắt đầu từ ngày 01/7/2017 đến ngày 30/6/2018, nhưng đến ngày 11/10/2024 các nguyên đơn mới nộp đơn khởi kiện, theo quy định tại khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Lao động năm 2019 là hết thời hiệu khởi kiện, Công ty đã nộp đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu kiện và yêu cầu áp dụng điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này và xác định còn thời hiệu khởi kiện là có căn cứ.
Bởi lẽ, sau khi kết thúc mùa vụ sản xuất, kinh doanh 2017-2018, vào năm 2019, nhiều người lao động ở Công ty có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty chi trả quỹ lương còn thừa 8.904 588.883 đồng của mùa vụ sản xuất kinh doanh 2017-2018 (11 vụ kiện). Công ty đã ban hành Văn bản số 37/TB-ĐST/2020 ngày 10/9/2020 có nội dung: “….Sau khi có bản án của Tòa án cấp cao nhất của vụ kiện cuối cùng được đưa ra xét xử, nếu phán quyết của Tòa án buộc Công ty phải thanh toán tiền lương cho người lao động thì Công ty sẽ thực hiện, tiền lương sẽ được chi trả cho người có đơn kiện và những người không có đơn kiện đã làm việc tại Công ty trong vụ 2017-2018”. Văn bản này được niêm yết công khai tại Công ty cho người lao động biết. Thời điểm này, ông H, ông H1, ông Th, ông Tr và ông Ph là những người lao động không có đơn khởi kiện do xuất phát từ nội dung văn bản này của Công ty. Đây được xem là Công ty đã thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với người lao động, cam kết chi trả cho người lao động khi có quyết định cuối cùng của Tòa án, trong đó có cả người lao động không có đơn khởi kiện đã làm việc tại Công ty trong mùa vụ 2017-2018. Trong quá trình giải quyết vụ án, phía Công ty cũng thừa nhận những người có đơn kiện trước đây đã được Tòa án giải quyết xong, trong đó có vụ tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến tiền lương giữa ông Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Thanh Ph với Công ty là vụ cuối cùng, đã được Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm, tuyên án ngày 26/8/2024 và có hiệu lực pháp luật, kết quả là Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người lao động, buộc Công ty chi trả quỹ lương còn thừa 8.904.588.883 đồng của mùa vụ sản xuất kinh doanh 2017-2018 cho những người lao động. Tuy nhiên, sau đó Công ty không thực hiện đúng như cam kết tại Văn bản số 37 nêu trên.
Khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân”. Khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong các trường hợp: “a. Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; b. Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; c. Các bên đã tự hòa giải với nhau”. Căn cứ các quy định này, thời hiệu khởi kiện được tính lại kể từ ngày tiếp theo của ngày 26/8/2024. Đến ngày 11/10/2024, các nguyên đơn nộp đơn khởi kiện là còn trong thời hiệu khởi kiện quy định tại khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Lao động năm 2019.
Như vậy, Công ty kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án do hết thời hiệu khởi kiện và Công ty đã có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
Các phần khác trong quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Công ty; căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Công ty cổ phần Mía đường S là người kháng cáo không được chấp nhận và cũng không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí phúc thẩm nên theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Công ty phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần Mía đường S.
1. Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 11/2025/LĐ-ST ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ), như sau:
Tuyên xử:
1.1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các ông Huỳnh Minh H, Nguyễn Hữu H1, Hồ Văn Th, Trần Thanh Tr và Nguyễn Văn Ph. Buộc Công ty cổ phần Mía đường S thanh toán quỹ tiền lương còn thừa của mùa vụ sản xuất, kinh doanh 2017-2018 cho:
- Ông Huỳnh Minh H số tiền 24.707.750 đồng (Hai mươi bốn triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn bảy trăm năm mươi đồng);
- Ông Nguyễn Hữu H1 số tiền 23.782.000 đồng (Hai mươi ba triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn đồng);
- Ông Hồ Văn Th số tiền 27.255.000 đồng (Hai mươi bảy triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng);
- Ông Trần Thanh Tr số tiền 27.830.000 đồng (Hai mươi bảy triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng);
- Ông Nguyễn Văn Ph số tiền 16.288.313 đồng (Mười sáu triệu hai trăm tám mươi tám nghìn ba trăm mười ba đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của các ông Huỳnh Minh H, Nguyễn Hữu H1, Hồ Văn Th, Trần Thanh Tr và Nguyễn Văn Ph cho đến khi thi hành án xong; hàng tháng, Công ty cổ phần Mía đường S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
1.2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty cổ phần Mía đường S phải chịu là 3.595.892 đồng (Ba triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi hai đồng).
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Công ty cổ phần Mía đường S phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000342 ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và như vậy, Công ty cổ phần Mía đường S đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND khu vực 5 - Cần Thơ; - VKSND TP Cần Thơ; - VKSND khu vực 5 - Cần Thơ; - THADS TP C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hoàng Lâm |