- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo T Triêk phạm tội “Giết người” - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo T Triêk phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/HSST Ngày: 13 - 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sâm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Như Ẩm;
2. Ông Phạm Hữu Dụng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Chi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 173/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: T Triêk (Tên gọi khác: Không); sinh năm 1993 tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Buôn B, xã T1, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: M’nông; tôn giáo: Tin lành; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Làm nông. Con ông N Buôn và bà H Triêk. Bị cáo có vợ là Ô Kuan và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2021, con nhỏ nhất sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/10/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo T Triêk:
+ Luật sư Lê Xuân Anh P thuộc Công ty luật TNHH MTV TC – Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
+ Luật sư Trần Thị C, thuộc Công ty luật TNHH MTV TC – Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
Cùng địa chỉ: 97 PNL, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị hại: Phan Văn V; địa chỉ: Buôn Y, xã T1, huyện L, tỉnh Đắk Lắk (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Ô Kuan; địa chỉ: Buôn B, xã T1, huyện L, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
+ K Bhôk; địa chỉ: Buôn Y, xã T1, huyện L, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 19/6/2024, T Triêk ngồi uống bia cùng với anh K Bhôk, Phan Văn V, M Buôn, P Nỡm tại nhà anh K Bhôk (thuộc buôn Y, xã T1, huyện L). Sau đó anh P Nỡm về trước, còn lại T Triêk, anh Phan Văn V, anh K Bhôk và anh M Buôn tiếp tục ngồi uống bia. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, anh V nhắc lại chuyện trước đây T xây chuồng heo cho gia đình anh V bị cong, không đẹp nên T nói “em chỉ xây theo người ta thôi, em xây có đẹp đâu”, thì anh V nói tiếp “tao nhớ những lời mày nói cả đời luôn”, nghe anh V nói nên T trả lời “cái chuyện đó lâu rồi, cách đây ba năm rồi, nhắc đi nhắc lại làm gì, tí lại cãi nhau không hay đâu anh”. Anh V tiếp tục chửi T “địt mẹ mày”, nghe anh V chửi nên T bực tức lấy một vỏ lon bia đã uống hết, dùng để gạt tàn thuốc lá ném về phía anh V nhưng không trúng. Lúc này, anh V và T lao vào đánh nhau thì được anh K Bhôk và anh M Buôn can ngăn nên sự việc dừng lại rồi anh V đi về trước. Một lúc sau, T cũng ra về, khi nhìn ra khu vực đường trước nhà bà R Buôn (cách nhà K Bhôk khoảng 15 mét) thấy anh V tay cầm một thanh sắt (loại sắt phi 16, dài khoảng 100cm). Thấy vậy, T nhìn xung quanh cách chỗ đứng khoảng 03 đến 04 mét có một cây gỗ để trong bồn cây sát nhà anh K Bhôk, nên T đi lại để lấy, khi cầm lên thì thấy đó là một cái cuốc (dài khoảng 1,5m, một đầu gắn lưỡi cuốc bằng sắt). T cầm cuốc đi đến chỗ anh V đứng, khi cách anh V khoảng 01 mét thì anh V cầm cây sắt đánh về phía T mấy phát, trong đó có một phát trúng ngón cái tay phải của T làm trầy xước da. T liền dùng hai tay cầm ở phần cán cuốc, hướng lưỡi cuốc về phía anh V, đưa lưỡi cuốc lên cao đánh từ trên xuống dưới 4 đến 5 phát, phát cuối cùng lưỡi cuốc đánh trúng vào vùng đầu của anh V làm anh V ngã xuống đất bất tỉnh, thì T dừng lại và vứt cuốc ở khu vực gần đó. Sau khi sự việc xảy ra, chị H Đào Buôn (sinh năm 1987, trú tại buôn Y, xã T1, huyện L) đứng ở gần đó chạy đến đỡ anh V dậy rồi gọi anh K Bhôk và anh M Buôn đến đưa anh V đi cấp cứu.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Tại biên bản xác định hiện trường ngày 08/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk đã xác định hiện trường là khu vực sân nhà bà R Buôn tại địa chỉ buôn Y, xã T1, huyện L, tỉnh Đắk Lắk.
* Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 609/KLTTCT-PY ngày 02/8/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Đắk Lắk, kết luận:
Vết thương (và vết mổ mở rộng) để lại sẹo hình chân chim vùng thái dương - đỉnh phải, đầu trên cách đường giữa đỉnh đầu 6cm, đầu dưới cách vành tai phải 5cm, kích thước (15 x 0,2)cm. Vết dẫn lưu để lại sẹo vùng đỉnh phải, kích thước (1 x 0,5)cm. Tụ máu ngoài màng cứng vùng trán - đỉnh phải. Dập não xuất huyết vùng trán phải còn hình ảnh trên phim CT Scanner sọ não. Xuất huyết dưới nhện vùng trán - thái dương - đỉnh phải. Vỡ, lún sọ đỉnh phải sau mổ là khuyết sọ đỉnh phải, đáy phập phồng, kích thước (5 x 5)cm. Kết quả cận lâm sàng: Chụp CT Scanner sọ não: Khuyết sọ vùng trán đỉnh phải; theo dõi dập phù não thùy trán đỉnh phải; dày niêm mạc các xoang cạnh mũi.
Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể do thương tích gây nên là: 50% (năm mươi phần trăm).
Vật tác động: Vật tày, cứng có cạnh.
Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương và vết mổ mở rộng để lại sẹo hình chân chim vùng thái dương - đỉnh phải; vỡ, lún sọ đỉnh phải; tụ máu ngoài màng cứng vùng trán - đỉnh phải; dập não xuất huyết vùng trán phải; xuất huyết dưới nhện vùng trán - thái dương - đỉnh phải do vật tày, cứng, có cạnh tác động trực tiếp gây nên có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ phải qua trái.
* Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 28/KLVGTT-PY ngày 07/8/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Đắk Lắk, kết luận:
Mẫu vật gởi đến giám định: là 01 (một) cái cuốc lưỡi bằng kim loại cứng, cán bằng gỗ cứng, có hai phần: (Phần lưỡi cuốc và phần cán cuốc...) được Cơ quan CSĐT Công an huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk gởi đến Trung tâm Pháp y Đắk Lắk để giám định là vật mang tính chất hỗn hợp (vật sắc; vật tày, cứng; vật tày cứng có cạnh) thì có khả năng gây ra được thương tích: Vết thương để lại sẹo hình chân chim vùng thái dương - đỉnh phải; Vỡ, lún sọ đỉnh phải: Tụ máu ngoài màng cứng vùng trán, đỉnh phải; Dập não xuất huyết vùng trán phải; Xuất huyết dưới nhện vùng trán, thái dương, đỉnh phải như trên cơ thể của ông Phan Văn V.
Qua nghiên cứu về đặc điểm, tính chất của mẫu vật gửi đến giám định (cây cuốc) và đặc điểm thương tích của ông Phan Văn V thì phần đuôi (chuôi, nơi để gắn vào cán cuốc) của lưỡi cuốc (và đầu trên của cán cây cuốc) là phù hợp nhất để gây nên thương tích tại vùng đầu ông Phan Văn V.
Chiều hướng tác động và Lực tác động: Vết thương để lại sẹo hình chân chim vùng thái dương - đỉnh phải, vỡ lún sọ đỉnh phải, tụ máu ngoài màng cứng vùng trán, đỉnh phải, dập não xuất huyết vùng trán phải, xuất huyết dưới nhện vùng trán, thái dương, đỉnh phải do vật tày, cứng, có cạnh tác động trực tiếp với lực mạnh gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ phải qua trái.
Bản cáo trạng số 04/CT-VKS-P2 ngày 11/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo T Triêk về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như nội dung Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk giữ nguyên Cáo trạng số 04/CT-VKS-P2 ngày 11/12/2024, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T Triêk phạm tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo T Triêk từ 08 năm đến 09 năm tù;
Về phần trách nhiệm dân sự, đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận trong giai đoạn điều tra vụ án giữa bị cáo T và bị hại anh Phan Văn V về việc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường số tiền 125.000.000đ cho bị hại (bị cáo đã bồi thường cho số tiền là 45.000.000 đồng, còn lại 80.000.000đ bị cáo sẽ bồi thường cho bị hại vào năm 2025).
Về xử lý vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 cái cuốc (có chiều dài 146cm, lưỡi cuốc bằng kim loại kích thước (23 x20)cm), 01 thanh sắt, 01 vỏ lon bia.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đưa bị cáo ra xét xử bị cáo T Triêk theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng quy định, luật sư thống nhất và không có ý kiến gì. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét đánh giá, tính chất mức độ phạm tội của bị cáo cũng như nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ phía của bị hại, chính hành vi vi phạm pháp luật của bị hại đã làm cho bị cáo bị kích động tinh thần. Do đó đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 chi bị cáo. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo một mức hình phạt dưới khung hình phạt theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố, điều tra thu thập chứng cứ vụ án đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định tổn thương cơ thể và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định: Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác, vào khoảng 21 giờ 30 ngày 19/6/2024 tại buôn Y, xã T1, huyện L, xuất phát từ mâu thuẫn trong lúc uống bia, sau đó anh Phan Văn V cầm một thanh sắt đứng chặn đường chờ đánh Y Tinh. Nên T đã lấy 01 cây cuốc đánh liên tiếp khoảng 04 đến 05 vào người anh Phan Văn V trong đó có một phát trúng vào đầu gây vỡ lún sọ thái dương đỉnh phải, tụ máu ngoài màng cứng thái dương đỉnh phải, dập não xuất huyết thái dương đỉnh phải, xuất huyết dưới nhện thái dương đỉnh phải, tụ khí nội sọ. Hậu quả làm anh Phan Văn V bị thổn thương 50% sức khỏe. Do đó, hành vi của T Triêk đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều 123 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
………………………………….
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm;
Xét tính chất, mức độ cũng như hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo hoàn toàn nhận thức được rằng hành vi dùng cây cuốc là hung khí nguy hiểm đánh trúng vào vùng đầu là vùng trọng yếu của cơ thể con người là hành vi trái pháp luật, gây nguy hiểm đến tính mạng của anh Phan Văn V nhưng bị cáo vẫn thực hiện, bất chấp hậu quả xảy ra. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tác động gia đình bồi thường thỏa đáng cho gia đình bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp nên việc nhận thức về pháp luật có phần còn hạn chế, bị cáo phạm tội có một phần lỗi của bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bên cạnh đó bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên được áp dụng Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo T và bị hại Phan Văn V đã tự nguyện thỏa thuận về việc bị cáo T có nghĩa vụ bồi thường số tiền 125.000.000đ cho bị hại (bị cáo đã bồi thường cho số tiền là 45.000.000 đồng, còn lại 80.000.000đ bị cáo sẽ bồi thường cho bị hại vào năm 2025). Xét thấy, việc thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 585, Điều 586, Điều 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên cần ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 cái cuốc (có chiều dài 146cm, lưỡi cuốc bằng kim loại kích thước (23 x20)cm); 01 thanh sắt; 01 vỏ lon bia.
(có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng vào ngày 12/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk và Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T Triêk phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại nên bị cáo T Triêk không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Bị cáo T Triêk phạm tội “Giết người”.
[2] Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt Bị cáo T Triêk 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/10/2024.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, Điều 586, Điều 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Công nhận việc thỏa thuận của bị cáo T Triêk và bị hại Phan Văn V đối với nội dung: Bị cáo T Triêk có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho anh Phan Văn V số tiền 125.000.000đ (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng). Bị cáo đã bồi thường được 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng), số tiền còn lại là 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) bị cáo T Triêk có nghĩa vụ bồi thường hết cho anh Phan Văn V trong năm 2025.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cái cuốc (có chiều dài 146cm, lưỡi cuốc bằng kim loại kích thước (23 x20)cm); 01 thanh sắt; 01 vỏ lon bia.
(có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng vào ngày 12/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk và Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk)
[5] Về án phí:
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T Triêk phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo T Triêk không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: -TAND Cấp cao; -VKSND Cấp cao; -VKSND tỉnh Đắk Lắk; -Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; -Cục T.H.A.DS tỉnh Đắk Lắk; -Trại tạm giam Công an tỉnh Đăk Lăk; -Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; -Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; -Cơ quan TTHAHS Công an tỉnh Đắk Lăk; -Bị cáo; Đương sự; -Lưu hồ sơ. | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Ngọc Sâm |