vanban.org

Bản án 07/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Lan A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Lan A 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đỗ Thị Lan A cho Ủy ban nhân dân xã Khánh Phú, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp tha… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA HSST Đỗ Thị Lan A - phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Lan A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HSST
Ngày 25 tháng 7 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Học và ông Hoàng Văn Khảm

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Hải Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Đỗ Thị Lan A, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2000 tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị H; có chồng là Lê Xuân C và có 03 con; tiền án; tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo hiện tại ngoại thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.

Bị hại:

Chị Dương Thị T , sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ dân phố 2 Đ, xã Y, tỉnh Phú Thọ, “vắng mặt”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Xuân C, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn P, xã K, tỉnh Ninh Bình “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Thị Lan A, là người không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Khoảng đầu tháng 3 năm 2025, Đỗ Thị Lan A cùng chồng là anh Lê Xuân C, đến thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) nay là phường V, tỉnh Phú Thọ để thuê trọ và tìm việc làm nhưng chưa tìm được công việc. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 28/03/2025, A bảo C điều khiển xe mô tô gắn BKS: 88K1- 104.28, chở từ phường V về xã Y để tìm việc làm cũng như mua đồ ăn. Khi đi đến khu vực thôn Đông, xã Y, A bảo C chờ ở ngoài đương còn mình đi vào chợ mua hàng, C đồng ý. Sau đó, A điều khiển xe mô tô trên đi vào khu chợ, A đến bàn bán thịt lợn của chị Dương Thị T, để mua khoảng 3,5 kg thịt lợn với giá tiền 520.000đ và đề nghị trả tiền thịt bằng hình thức chuyển khoản, đồng thời bảo chị T đưa thêm cho mình số tiền 2.000.000đ sau đó A sẽ chuyển khoản vì do A đang không có tiền mặt, chị T đồng ý. Sau đó, A sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 14 Promax, màu tím của mình mở ứng dụng ngân hàng quét mã QR Code dẫn đến tài khoản Ngân hàng của chị T và thực hiện nhập số tiền cần chuyển là 2.520.000đ và bảo chị T là đã chuyển tiền thành công, chị T đưa cho A 2.000.000đ tiền mặt cùng số thịt lợn trị giá 520.000đ. Sau khi nhận tiền và thịt, A đi xe mô tô trên để đến đón C đi về. Trên đường về, A kiểm tra thấy tài khoản Ngân hàng bị lỗi, chưa chuyển được tiền nên đã đi vào cửa hàng điện thoại H do chị Ngô Thị B, ở tổ dân phố 3 Đ, xã Y làm chủ để nhờ chị B chuyển tiền trả cho chị B số tiền 2.520.000đ (khi này C ở bên ngoài không biết việc A làm) rồi đưa cho chị B số tiền 2.520.000đ và 10.000đ tiền công. Chị T đã nhận đủ tiền.

Lợi dụng sự tin tưởng trong quá trình mua hàng ngày 28/3/2025 giữa A và chị Dương Thị T nên ngày 29/03/2025, A nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị Dương Thị T bằng việc làm giả lệnh chuyển tiền thành công. Tuy nhiên, do không biết làm giả lệnh chuyển tiền nên Đỗ Thị Lan A vào mạng xã hội Facebook tìm kiếm các hội, nhóm làm giả để thuê làm giả lệnh chuyển tiền như mình mong muốn tìm được một người không rõ nam hay nữ, không rõ nhân thân lai lịch đồng ý giúp. Sau đó, A và người này đã liên lạc với nhau qua ứng dụng Messenger thì người này bảo A muốn làm giả lệnh chuyển tiền như thế nào thì chỉ cần gửi số tài khoản Ngân hàng của người nhận và số tiền muốn thể hiện thì người này sẽ làm giả cho giống như lệnh chuyển tiền thành công cả hai thỏa thuận phí là 10.000đ/01 lệnh chuyển tiền giả, A trả bằng cách mua thẻ nạp điện thoại gửi cho người này.

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 30/3/2025, A bảo chồng là C chở đến xã Y để mua đồ, A không nói cho C biết mình đi để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi gần đến nơi thì A bảo C chờ ở ngoài rồi đi vào vị trí quầy bán hàng của chị Dương Thị T để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như mục đích ban đầu. Đến nơi A bảo chị T cân cho mình số thịt ba chỉ đang để trên bàn thì chị T cân lên khoảng 06kg rồi bảo A số thịt này có giá là 930.000 đồng. A bảo chị T “chị ơi chị có tiền mặt không chị đổi tiền tài khoản cho em với để em lấy tiền mặt em tiêu”, chị T nói là có. A bảo chị T là “đổi cho em 10.000.000 đồng”, chị T đồng ý và lấy tiền mặt đưa cho A 10.000.000 đồng, A đếm lại tiền, thấy còn thiếu 1.000.000 đồng, chị T đưa thêm cho A 1.000.000 đồng, A cầm đủ 10.000.000 đồng mà chị T đưa cho rồi để số tiền này vào trong túi sách màu đen của mình. Sau đó, A gửi thông tin số tài khoản và số tiền cần tạo lập lệnh chuyển tiền giả trên điện thoại di động cho người không quen biết trên mạng xã hội thông qua ứng dụng Meesenger. Khoảng 3-4 phút sau, A nhận được một hình ảnh thể hiện nội dung đã chuyển thành công đến tài khoản ngân hàng của chị T số tiền 10.930.000đ. A lấy điện thoại di động của mình giả vờ quét mã vạch để trả tiền, rồi ấn mở biên lai giả này ra rồi đưa cho chị T xem để chị T tưởng là thật nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Sau khi chiếm đoạt được tiền, tài sản của chị T, A điều khiển xe mô tô đi ra bảo với C là mua được đồ rồi và đưa xe cho C chở mình đi về nhà nghỉ đã thuê từ trước ở phường V. Số tiền 10.000.000đ chiếm đoạt được A để vào túi xách mà mình và chồng hay sử dụng chung mà không nói cho C biết.

Sau khi sự việc xảy ra, đến ngày 01/4/2025, chị T đến Công an xã Y trình báo và đề nghị giải quyết. Công an đã tiếp nhận, xác minh. Đến sáng ngày 02/4/2025, Công an xã Y đã rà soát, xác minh triệu tập được Đỗ Thị Lan A và Lê Xuân C về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra Cơ quan Công an đã tạm giữ:

- Tạm giữ của Lê Xuân C gồm: 01 chiếc túi xách giả da, màu đen, có quai đeo, đã qua sử dụng; Số tiền 24.530.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi Note 11 Pro, màu đen. số IMEI 1: 868202051353822, số IMEI 2: 868202051353830, điện thoại đã qua sử dụng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, màu đen, số khung: RLHJF2704BY083358, số máy: JF2730815407, gắn biển kiểm soát 88K1-104.28, xe đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, số 098470, biển số đăng ký: 29E2-409.89 do Công an quận Đống Đa, thành phố Hà Nội cấp ngày 09/7/2018, tên chủ xe Đoàn Tuấn Thanh;

- Thu giữ của Đỗ Thị Lan A gồm: 01 chiếc túi xách giả da, màu đen có quai đeo, đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Promax, màu xám, số IMEI 1 là 354950992490845, số IMEI 2 là 354950992292399, điện thoại đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone 14 Promax, màu tím, số IMEI 1 là 358686326284621, số IMEI 2 là 358686326817842, điện thoại đã qua sử dụng; 01 mũ nhựa cứng màu đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo dài tay, màu vàng nhạt, cổ áo có chữ AUZED, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần vải màu trắng, đã cũ qua sử dụng; 01 đôi dép chất liệu cao su, cở 37, gầm đế dép có chữ made in Viêt Nam, đã cũ qua sử dụng.

- Ngày 02/4/2025, chị Dương Thị T giao nộp cho cơ quan công an 10 bức ảnh chụp ghi nhận lại hình ảnh của Đỗ Thị Lan A đứng mua thịt lợn và lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền 10.930.000 đồng của chị T vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30/3/2025.

- Ngày 02/4/2025, chị Ngô Thị B, là chủ quán điện thoại di động “H Mobile” cung cấp cho cơ quan điều tra 02 bức ảnh chụp ghi nhận lại hình ảnh của Đỗ Thị Lan A đứng đối diện nhờ chị B chuyển khoản trả số tiền 2.520.000 đồng vào ngày 28/3/2025 cho chị Dương Thị T.

Tại Bản kết luận giám định số 976 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: Số khung, số máy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Ablade, màu sơn bạc-đen, gắn BKS: 88K1- 104.28 không bị tẩy xoá, sửa chữa, số nguyên thuỷ là: Số khung: RLHJF2704BY083358; Số máy: JF27E- 0815407. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã thông báo kết luận giám định nêu trên cho Đỗ Thị Lan A và Lê Xuân C, cả hai đều đồng ý, không có ý kiến thắc mắc gì.

- Ngày 10/4/2025, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc, Thông báo kết quả tra cứu xe máy vật chứng số 07, kết quả tra cứu chiếc xe mô tô có số khung: RLHJF2704BY083358, số máy: JF27E0815407, không có trong cơ sở xe máy vật chứng.

- Ngày 14/4/2025, Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với anh Nhâm Quang Hiệu, sinh năm 1989 trú tại TDP Láng, thị trấn Kim Long, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, xác định vào khoảng tháng 11/2012, có mua 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu sơn nâu, đăng ký xe mang tên Nhâm Quang Hiệu. Đến khoảng tháng 5 năm 2014, do không có nhu cầu sử dụng thì anh Hiệu đã bán xe cho người khác ((không nhớ bán cho ai, ở đâu, tên là gì).

- Ngày 22/4/2025, Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với anh Đoàn Tuấn Thanh, sinh năm 1981 trú tại phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, xác định vào khoảng tháng 7 năm 2018, anh Thanh có mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Ablade, màu đen-bạc, BKS: 29E2- 409.89, đăng ký xe mang tên Đoàn Tuấn Thanh. Do không có nhu cầu sử dụng, anh Thanh đã bán xe vào năm 2023 (không nhớ bán cho ai, ở đâu, tên là gì).

Tại Cáo trạng số: 63/CT- VKSYL ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc nay là Viện kiểm sát khu vực 10 – Phú Thọ truy tố Đỗ Thị Lan A về tội “Lừa Đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự. Xử phạt Đỗ Thị Lan A từ 01 năm đến 01 năm 03tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 02 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Bị hại:

Chị Dương Thị T: Tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra và tại đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, chị trình bày: Chị làm nghề bán thịt lợn tại Chợ Trung tâm xã Y. Ngày 30/3/2025, A đã đến cửa hàng của chị và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị là 10.000.000đ tiền mặt và 06kg thịt lợn với số tiền là 930.000đ, tổng cộng là 10.930.000đ. Quá trình điều tra A đã trả cho chị số tiền 930.000đ và nộp tại Cơ quan Công an số tiền 10.000.000đ để trả lại cho chị, nay chị đề nghị được nhận lại số iền 10.000.000đ, ngoài ra chị không có yêu cầu gì và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Xuân C: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa anh trình bày: Anh là chồng của bị cáo A. Ngày 30/3/2025, A có bảo anh trở A từ phường V đến xã Y, khi đến nơi A bảo anh đợi ngoài đường rồi A vào chợ. Trước và sau khi A thực hiện hành vi phạm tội, A không nói cho anh biết. Quá trình điều tra anh đã giao nộp cho Cơ quan Công an: 01 chiếc túi xách giả da, màu đen, có quai đeo, đã qua sử dụng; Số tiền 24.530.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi Note 11 Pro, màu đen; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, màu đen, gắn biển kiểm soát 88K1-104.28, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, số 098470, biển số đăng ký: 29E2-409.89. Toàn bộ tài sản này anh đề nghị giải quyết theo qui định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra Viên, của Viện kiểm sát, của kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị Lan A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ. Đỗ Thị Lan A khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 30 tháng 3 năm 2025, tại quầy bán thịt lợn của chị Dương Thị T ở Chợ Trung Tâm, xã Y, bị cáo thực hiện hanh vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 10.000.000đ tiền mặt và 06kg thịt lợn của chị Dương Thị T. Tài sản mà bị cáo lừa đảo có tổng giá trị là 10.930.000 đồng.

Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng của vụ án cùng các chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận Đỗ Thị Lan A đã phạm vào tội “Lừa Đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội danh được qui định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, giao nộp toàn bộ số tiền thiệt hại để trả cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đó là bị hại là chị Dương Thị T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có đơn xác nhận của Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú về hoàn cảnh gia đình khó khăn và bản thân đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên áp dụng phạt tù cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tính răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo. Xét thấy mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị là hơi cao, Hội đồng xét xử sẽ xử phạt bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Đối với Anh Lê Xuân C: Ngày 30/3/2025, đi cùng và chở A từ phường V đến xã Y và từ xã Y về phường V. A không nói gì cho anh C biết việc A đi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó không có đủ cơ sở xử lý đối với anh Lê Xuân C.

Về vấn đề dân sự trong vụ án hình sự:

Ngày 30/3/2025, A đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Dương Thị T số tiền mặt là 10.000.000đ và 06kg thịt lợn trị giá 930.000đ, tổng cộng là 10.930.000đ. bị cáo đã trả lại chị T số tiền 930.000đ và nộp tại Cơ quan Công an số tiền 10.000.000đ để trả lại chị T, quá trình điều tra chị T đề nghị được nhận lại số tiền này, do đó trả lại chị T số tiền 10.000.000đ.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với số tiền 14.530.000 đồng; 01 chiếc túi xách giả da, màu đen, có quai đeo; 01 điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Promax, màu xám thu giữ của anh Lê Xuân C. Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ là tài sản hợp pháp của anh C, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho anh C. Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone 14 Promax, màu tím của Đỗ Thị Lan A xác định là tài sản hợp pháp của A, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho A nhưng cần tạm giữ điện thoại của A để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi Note 11 Pro, màu đen, số IMEI 1: 868202051353822, số IMEI 2: 868202051353830 của Đỗ Thị Lan A điện thoại đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu bán phát mại xung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 chiếc túi xách giả da, màu đen, có quai đeo, đã qua sử dụng; 01 mũ nhựa cứng màu đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo dài tay, màu vàng nhạt, cổ áo có chữ AUZED, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần vải màu trắng, đã cũ qua sử dụng; 01 đôi dép chất liệu cao su đã cũ qua sử dụng thu giữ của Đỗ Thị Lan A, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là vật chứng được bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, do không có giá trị sử dụng và bị cáo cũng không có nhu cầu nhận lại nữa nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, màu đen, số khung: RLHJF2704BY083358, số máy: JF2730815407, gắn biển kiểm soát 88K1-104.28, xe đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, số 098470, biển số đăng ký: 29E2-409.89 do Công an quận Đống Đa, thành phố Hà Nội cấp ngày 09/7/2018, tên chủ xe Đoàn Tuấn Thanh, thu của của Lê Xuân C chưa chứng minh được việc mua bán hợp pháp đối với chiếc xe này nên tạm giữ để tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Lan A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s, i khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Lan A 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Thị Lan A cho Ủy ban nhân dân xã Khánh Phú, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Đỗ Thị Lan A có nghĩa bồi thường cho chị Dương Thị T số tiền 10.000.000đ do bị cáo có hành vi lừa đảo ngày 30/3/2025. Xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền tại cơ quan Công an ngày 02/4/2025.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi Note 11 Pro, màu đen.

Trả lại cho anh Lê Xuân C số tiền 14.530.000 đồng; 01 chiếc túi xách giả da, màu đen, có quai đeo; 01 điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Promax, màu xám.

Trả lại cho bị cáo Đỗ Thị Lan A 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone 14 Promax, màu tím nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phí.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi xách giả da, màu đen, có quai đeo, đã qua sử dụng; 01 mũ nhựa cứng màu đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo dài tay, màu vàng nhạt, cổ áo có chữ AUZED, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần vải màu trắng, đã cũ qua sử dụng; 01 đôi dép chất liệu cao su của Đỗ Thị Lan A. Tất cả vật chứng và số tiền có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Phú Thọ.

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 qui định về lệ phí, án phí Tòa án buộc bị cáo Đỗ Thị Lan A phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình. Bị hại, vắng mặt cũng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ