- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Dũng - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu D, Vũ Ngọc H, Vũ Hoàng Minh Q, Trần Trọng T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 07/2025/HSST Ngày: 15-01-2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà Vi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà: Đỗ Thị Thƣơng Huyền
- Bà: Hồ Thị Hồng Liên
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Việt Phú – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Hữu D; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 22/9/1989 tại Nghệ An; Nơi thường trú và chỗ ở: số 61, Huỳnh Thúc Kháng, phường 2, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam Tôn giáo: Phật giáo;
Con ông: Nguyễn Hữu Quang (sinh năm 1957); Con bà: Nguyễn Thị Phương (sinh năm 1960). Cả hai hiện sinh sống tại số 61, Huỳnh Thúc Kháng, phường 2, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ: Phạm Thị Kim Vân, sinh năm 1991, con: có 01 con sinh năm 2016 hiện đang cư trú tại số 61, Huỳnh Thúc Kháng, phường 2, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng;
Tiền sự, tiền án: không
Nhân thân:
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 18/7/2013, bị Công an phường 1, thành phố Bảo Lộc, Lâm Đồng xử phạt tiền 750.000đ về hành vi “Đánh nhau chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”;
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 82 ngày 25/8/2015, bị Công an thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 2.500.000đ về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2024 đến ngày 26/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng
2. Họ và tên: Vũ Ngọc H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15/10/1991 tại Lâm Đồng; Nơi thường trú và chỗ ở: 56/4, Trịnh Hoài Đức, xã Lộc Nga, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa;
Con ông: Vũ Đức Hiệp (sinh năm 1960); Con bà: Phạm Thị Thúy Nga (sinh năm 1962). Cả hai hiện sinh sống tại 56/4, Trịnh Hoài Đức, xã Lộc Nga, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Vợ: Đào Thị Thanh Vân, sinh năm 1996, con: chưa có.
Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2024 đến ngày 26/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng
3. Họ và tên: Vũ Hoàng Minh Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 23/02/1993 tại Lâm Đồng; Nơi thường trú và chỗ ở: 113/52 Phan Chu Trinh, phường Lộc Tiến, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa;
Con ông: Vũ Ngọc Thế (sinh năm 1961); Con bà: Hoàng Thị Dung (sinh năm 1964). Cả hai hiện sinh sống tại 113/52 Phan Chu Trinh, phường Lộc Tiến, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Tuyết Mai, sinh năm 1991, con: có 02 người con sinh năm 2018 và 2020.
Tiền sự,tiền án: Không.
Nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 00946 ngày 12/3/2008 của Công an phường Lộc Tiến, thành phố Bảo Lộc xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2024 đến ngày 26/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
4. Họ và tên: Trần Trọng T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02/01/1990 tại Lâm Đồng; Nơi thường trú và chỗ ở: Số 10/8, đường Phạm Phú Thứ, phường B’Lao, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Trần Trọng Thủy (sinh năm 1940, đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Thanh (sinh năm 1957), hiện sinh sống tại số 677/25, đường Trần Phú, phường B’Lao, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Minh Hậu, sinh năm 1990; con: có 02 người con sinh năm 2013 và 2018 hiện nay đang cư trú tại số10/8, đường Phạm Phú Thứ, phường B’Lao, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2024 đến ngày 26/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Phi H1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số 726/18, đường Trần Phú, phường Lộc Tiến, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt
Người làm chứng:
1. Anh Huỳnh Trí Kiệt, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số 729/14, Trần Phú, phường B’ Lao, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt
2. Chị Nguyễn Phƣơng Linh, sinh năm 2005; Địa chỉ: Khu phố 1, phường Long Bửu, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Vắng mặt
3. Chị Đỗ Xuân Trúc, sinh năm 2004; Địa chỉ: Khu phố 1, phường Long Bửu, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Vắng mặt
4. Chị Nguyễn Thị Tuyết Sƣơng, sinh năm 2001; Địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn Kiến Đức, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông; Vắng mặt
5. Anh Nguyễn Hoàng An, sinh năm 1989; Địa chỉ: E8.12A, Chung cư Him Lam Riverside, đường D1, phường Tân Hưng, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt
6. Anh Nguyễn Văn Hiệu, sinh năm 1997; Địa chỉ: Số 31/6/9E, đường 160, phường Tăng Phú A, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để phục vụ việc tiếp khách (là các nhân viên ngân hàng, gồm Nguyễn Hoàng An và Nguyễn Văn Hiệu, Vũ Ngọc H và Nguyễn Hữu D đã thống nhất nhờ người mua ma túy (loại cocain) để sử dụng (theo lời khai của H và D: đã nhờ bạn của H là Nguyễn Thành Luân - sinh 1989, HKTT: thôn 16, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, thời điểm đó làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, mua ma túy (dạng cocain). H trực tiếp gọi điện thoại nhờ Nguyễn Thành Luân mua ma tuý (cocain) cho khoảng 7 đến 8 người sử dụng trong 01 lần, thì Luân đồng ý và nói sẽ đưa ma tuý cho H tại thành phố Bảo Lộc).
Đến trưa ngày 15/03/2024, H cùng Nguyễn Hữu D, Vũ Hoàng Minh Q, Huỳnh Trí Kiệt, Phạm Phi H1, Trần Trọng T nhậu tại quán Hồ cá Bá Thiên (địa chỉ: số 190/124, Huỳnh Thúc Kháng, phường 2, thành phố Bảo Lộc). Sau đó, Nguyễn Thành Luân đến nhậu cùng với nhóm H. (Theo lời khai của H: Trong lúc nhậu, Luân đã đưa cho H 01 gói ma tuý (cocain) tại phòng vệ sinh của hồ cá Bá Thiên). Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H, D, Hùng, Tuấn, Luân, Tuấn đi tới Homestay của bà Nguyễn Thị Thọ tại địa chỉ: hẻm 43, đường Văn Cao, phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc để tiếp tục nhậu và đợi nhóm Nguyễn Hoàng An đến. Trước đó, D nói Q về nhà của Trần Trọng T lấy bộ bàn DJ tới Homestay của bà Thọ để nghe nhạc. Trong lúc tại nhậu tại homestay của bà Thọ, D gọi điện cho Võ Thanh Hiền (tên gọi khác là Su, sinh 2003, HKTT: Thôn Phú Mỹ 1, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định) để cùng ăn nhậu, nếu nhóm của D sử dụng ma tuý thì sẽ hỗ trợ “dìu bay” (chơi ma tuý cùng và ngồi bên cạnh người chơi ma tuý dùng tay vỗ vào vai hoặc vào người của người chơi ma tuý) thì Hiền đồng ý và được D chuyển khoản trả cho Hiền 10.000.000 đồng tiền công.
Đến khoảng 02 giờ ngày 16/03/2024, An, Hiệu và Hoàng Thanh Phát đến Homestay của bà Thọ nhậu cùng nhóm của D đến khoảng 03 giờ ngày 16/03/2024 thì cả nhóm đi ngủ.
Đến khoảng 10 giờ ngày 16/03/2024, D rủ cả nhóm đến homestay Chân Mây của D ở thôn 16, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng để tiếp tục ăn nhậu và sử dụng ma tuý. Lúc này, H đưa cho D gói ma tuý (theo lời khai của H là gói ma túy nhờ Luân mua) thì D giấu gói ma tuý dưới miếng lót để chân xe ô tô và đưa bàn DJ, loa của Tuấn lên xe ô tô biển số 49C – 23856 rồi chở An, Hiệu, Hiền lên homestay Chân Mây trước. Còn H, Luân, Q, Hùng, Phát đi xe taxi đến đoạn đường dốc thì D chạy xe ô tô xuống đón lên homestay Chân Mây. D nói Q đi xuống xe lấy gói ma tuý giấu dưới lót để chân xe ô tô đưa lên cho D, rồi D và Q bê loa, bàn DJ vào phòng số 02, đồng thời dùng chăn nệm, che kín các cửa sổ lại, để tạo phòng sử dụng ma tuý. Tiếp đó, D để 01 bịch ma tuý trên loa để ai có nhu cầu sử dụng ma tuý thì tự lấy sử dụng. Sau đó, cả nhóm D ăn và ngủ trưa, riêng Luân đi về nhà tại tỉnh Bình Thuận.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H, D, Q, Tuấn, Hiền thức dậy và cùng sử dụng ma tuý bằng cách lấy bịch ma tuý của D (để trên loa) đổ vào 01 dĩa sứ (đĩa có sẵn trong homestay D) rồi dùng 01 card điện thoại (có sẵn trong homestay do khách du lịch để lại) để chia ma tuý theo từng “đường”, dùng 01 tờ tiền quấn sẵn để hút ma tuý vào mũi (do đã say nên các đối tượng không xác định được ai là người thực hiện các việc này). Lúc này, Tuấn gọi điện liên hệ để cho Đỗ Xuân Trúc, Nguyễn Phương Linh và Nguyễn Thị Tuyết Sương tới để “dìu bay”. Trong lúc sử dụng ma tuý, D không nhìn thấy bịch ma tuý để trên đĩa (do bị rớt xuống nệm) nên D yêu cầu bật điện để cả nhóm ôm chăn mền lên để tìm bịch ma tuý này nhưng không tìm thấy nên D nói tắt điện và tiếp tục sử dụng số ma tuý còn lại trên đĩa.
Quá trình sử dụng ma tuý, Q điều khiển xe ô tô của D ra ngã 3 Đại Bình mua thêm ma tuý dạng Ketamin được để sẵn trong 01 hũ nhựa từ 01 người đàn ông lạ mặt do Q liên hệ trước trên ứng dụng Telegram. Q mang số ma tuý về để trên loa cho mọi người cùng sử dụng. D, Tuấn thay phiên nhau đánh nhạc DJ cho cả nhóm sử dụng ma tuý. Các đối tượng trên hít ma tuý, ai mệt thì nằm nghỉ, khi thức dậy thì tiếp tục sử dụng ma tuý còn lại. Hiền và Hùng sử dụng ma túy xong thì đi về trước, còn H, D, Q, Tuấn, Linh, Sương, Trúc tiếp tục sử dụng ma tuý cho tới khi bị bắt quả tang.
Tại bản Kết giám định số: 377/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, kết luận:
- Phong bì 01 (thu giữ của Vũ Ngọc H): Mẫu chất bột (M1) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8198g, loại Cocaine.
- Phong bì 02 (thu giữ trên đĩa sứ): Mẫu chất bột (M2) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5419g, loại Ketamine.
- Phong bì 03 (thu giữ của Vũ Hoàng Minh Q): Mẫu chất bột (M3) đựng trong một hộp nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8340g, loại Ketamine.
- Hộp giấy: Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên bề mặt đĩa sứ màu cam, ống hút tự chế và vỏ thể sim điện thoại (M4).
(Cocaine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIA, STT: 18, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ; Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT: 40, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Tại Cáo trạng số 112/CT-VKSBL ngày 19/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu D, Vũ Ngọc H, Vũ Hoàng Minh Q, Vũ Ngọc H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên nội dung như Cáo trạng đã truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu D, Vũ Ngọc H, Vũ Hoàng Minh Q, Trần Trọng T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D từ 05 năm 6 tháng đến 06 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 17/3/2024; Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Ngọc H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 17/3/2024; Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Trọng T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 17/3/2024; Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Hoàng Minh Q từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 17/3/2024.
Hình phạt bổ sung: không đề nghị.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
- Các bị cáo Nguyễn Hữu D, Vũ Ngọc H, Vũ Hoàng Minh Q, Trần Trọng T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhận thức được hành vi phạm tội là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản thực nghiệm hiện trường, vật chứng, tài liệu thu giữ trong hồ sơ thể hiện: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận, Vào ngày 15/3/2024 đến ngày 16/3/2024, để phục vụ việc tiếp khách là nhân viên ngân hàng, Vũ Ngọc H, Nguyễn Hữu D đã chuẩn bị ma túy và các dụng cụ phục vụ việc sử dụng ma túy. Sau khi ăn nhậu tại quán nhậu Bá Thiên và Homestay của bà Nguyễn Thị Thọ ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, khoảng 10 giờ trưa ngày 16/3/2024, D mang theo gói ma túy chuẩn bị từ trước, rủ Vũ Ngọc H, Trần Trọng T, Vũ Hoàng Minh Q cùng với Huỳnh Trí Kiệt, Phạm Phi H1, Nguyễn Thành Luân, Võ Thanh Hiền, Nguyễn Hoàng An, Nguyễn Văn Hiệu đến Homestay Chân Mây thuộc thôn 16, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng để tiếp tục ăn nhậu và sử dụng ma túy. Khi đến phòng số 2, Homestay Chân Mây, D nói Q lấy gói ma túy giấu dưới lót chân của xe ô tô, rồi cùng chuẩn bị dàn nhạc loa, DJ, dùng chăn nệm che kín các cửa sổ lại để tạo không gian sử dụng ma túy. Tiếp đó, Tuấn liên hệ tìm Đỗ Xuân Trúc, Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Thị Tuyết Sương đến “dìu bay”. Quá trình sử dụng ma túy, do không tìm thấy gói ma túy để trên loa ( gói ma túy này bị rơi xuống nệm) nên Q liên hệ qua Telegram của một người không rõ nhân thân lai lịch rồi đi xe ra ngã 3 Đại Bình mua thêm 01 gói ma túy dạng Ketamine mang về cho cả nhóm tiếp tục sử dụng. Khi sử dụng ai mệt thì nghỉ trước, thức dậy thì tiếp tục sử dụng ma túy. Cả nhóm sử dụng ma túy cho đến khi bị Cơ quan Công an bắt quả tang.
Tại bản Kết giám định số: 377/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, kết luận:
- Phong bì 01 (thu giữ của Vũ Ngọc H): Mẫu chất bột (M1) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8198g, loại Cocaine.
- Phong bì 02 (thu giữ trên đĩa sứ): Mẫu chất bột (M2) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5419g, loại Ketamine.
- Phong bì 03 (thu giữ của Vũ Hoàng Minh Q): Mẫu chất bột (M3) đựng trong một hộp nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8340g, loại Ketamine.
- Hộp giấy: Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên bề mặt đĩa sứ màu cam, ống hút tự chế và vỏ thể sim điện thoại (M4).
(Cocaine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIA, STT: 18, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ; Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT: 40, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Hành vi của các bị cáo vi phạm pháp luật hình sự, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Hữu D, Vũ Ngọc H, Vũ Hoàng Minh Q, Trần Trọng T đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án rất nghiêm trọng, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo Nguyễn Hữu D, Vũ Ngọc H, Vũ Hoàng Minh Q, Trần Trọng T là người trưởng thành, đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện chứng tỏ các bị cáo xem thường pháp luật, đồng thời hành vi của các bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu về tình hình trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh gây ra nhiều căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác cũng như phát sinh nhiều tội phạm khác trong xã hội. Vì vậy xét thấy cần thiết pH áp dụng cho các bị cáo một mức hình phạt đủ nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, đủ để giáo dục, răn đe, cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Hữu D được Công an tỉnh Kon Tum ghi nhận công lao đóng góp của công dân trong đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy; Bị cáo Vũ Ngọc H được Công an huyện Lâm Hà có công văn đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ về việc bị cáo H cung cấp, tích cực hợp tác với Công an huyện Lâm Hà triệt phá điểm tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo Trần Trọng T được Công an huyện Định Quán trả lời về việc bị cáo Tuấn cung cấp thông tin, tích cực hợp tác với Công an huyện Định Quán phát hiện tội phạm nên các bị cáo D, H, Tuấn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Hữu D, Trần Trọng T có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Lộc Nam về việc hỗ trợ giúp đỡ xây dựng nhà cho hộ dân có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo Tuấn có bố có huận chương chiến sỹ vẻ vang hạng 2, hạng 3, bị cáo D được Báo Lâm Đồng gửi thư cảm ơn vì đã đóng góp tích cực cho cộng đồng xã hội; bị cáo Vũ Hoàng Minh Q đã ủng hộ tiền vì người nghèo và hỗ trợ người có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo Q, Tuấn, H, D được Hội chữ thập đỏ thành phố Bảo Lộc tặng giấy khen được nên các bị cáo D, Tuấn, Q, H được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với đơn xin xác nhận của Công an xã Đắk Ploa, huyện Đạ Hoai do vợ bị cáo Tuấn nộp thì không có căn cứ để chấp nhận vì qua xác minh thì Công an huyện Đạ Hoai trả lời theo hồ sơ tin báo không thể hiện bị cáo Tuấn là người tố giác tội phạm đồng thời hồ sơ cũng không thể hiện Trần Trọng T có tham gia hỗ trợ giúp đỡ Công an xã bắt giữ đối tượng K’ Khiến nên không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự;
Đối với đơn xin xác nhận của chị Phạm Thị Kim Vân là vợ của bị cáo D, xác nhận bị cáo D là lao động chính và gia đình có hoàn cảnh khó khăn và đơn xin xác nhận của ông Vũ Đức Hiệp là bố của bị cáo Vũ Ngọc H xác nhận bị cáo H là lao động chính tuy nhiên gia đình các bị cáo vẫn còn những người lao động khác nên không được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H, D.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Quá trình điều tra xác định được vai trò của các bị cáo như sau:
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn không có sự phân công bàn bạc trừ trước với nhau. Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy rằng bị cáo Nguyễn Hữu D là chủ mưu, cùng với bị cáo H có hành vi cung cấp chuẩn bị ma túy cho Đỗ Xuân Trúc, Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Thị Tuyết Sương, Huỳnh Trí Kiệt, Phạm Phi H1, Võ Thanh Hiền, Trần Trọng T, Vũ Hoàng Minh Q cùng sử dụng trái phép chất ma túy đồng thời là người chuẩn bị phòng sử dụng ma túy (lắp loa, bàn DJ, dùng chăn bịt phòng), rủ rê, lôi kéo Võ Thanh Hiền sủ dụng ma túy cùng, trực tiếp điều chỉnh nhạc để đối tượng nghe khi sử dụng ma túy; Bị cáo Vũ Ngọc H cùng bị cáo D chuẩn bị ma túy, trực tiếp đưa ma túy cho bị cáo D để cho mọi người cùng sử dụng; Bị cáo Vũ Hoàng Minh Q đã có hành vi phụ giúp Nguyễn Hữu D chuẩn bị phòng sử dụng ma túy, phụ bê loa, bàn DJ, loa và trực tiếp mua ma túy để cho mọi người cùng sử dụng; Bị cáo Trần Trọng T có hành vi liên hệ rủ rê Đỗ Xuân Trúc, Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Thị Tuyết Sương sử dụng ma túy, cung cấp bàn DJ, loa và trực tiếp điều chỉnh nhạc để đối tượng nghe khi sử dụng ma túy.
Ngoài ra bị cáo D có nhân thân xấu, do vậy cần xem xét áp dụng hình phạt của bị cáo D nghiêm khắc hơn các bị cáo khác. Các bị cáo H, Tuấn có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nên cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo D, H, Tuấn có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự nên đủ điều kiện để xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo D, H, Tuấn. Bị cáo Q vai trò phụ giúp bị cáo D nhưng không có đủ tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới khung hình phạt cho bị cáo. Vì vậy khi áp dụng hình phạt cũng cần căn nhắc cho các bị cáo hình phạt đủ nghiêm khắc, mang tính chất răn đe, cải tạo và giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra cũng như ý thức của các bị cáo đủ để răn đe, phòng ngừa riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì kích thước 20cm X 14,4cm trên phong bì có ghi dòng chữ “CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG, Số: 377/2024-PC09” (trong phong bì đựng 0.4003g ketamin mẫu vật M2 và 0,6846g ketamin mẫu vật M3 theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận đối tượng giám ngày 22/03/2024);
- 01 (một) hộp giấy màu trắng kích thước 17cm X 23cm X 27cm, được niêm phong bên trong có (01 đĩa sứ màu cam có dòng chữ “hermes; 01 thẻ sim điện thoại nhãn hiệu “vinaphone” theo biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám ngày 18/03/2024 và biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận đối tượng giám ngày 22/03/2024);
* Tịch thu sung Ngân sách nhà nước tang vật sử dụng để thực hiện hành vi tội phạm:
- 01 một ống hút tự chế được quấn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ, hai đầu được bọc bằng vỏ đầu lọc thuốc lá;
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng, số Imei: 359871975573941, số sê-ri: F2LF491Y0D41, lắp sim số: 0971417151 của Vũ Hoàng Minh Q, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy.
- 01 (một) bộ chơi nhạc DJ hiệu Opus-Quad, màu đen, 01 (một) cặp loa điện tử màu trắng hiệu KRK, 01 (một) cặp loa điện tử màu đỏ hiệu Monkey Banana của Trần Trọng T.
* Trả lại đồ vật không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án gồm:
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh, gắn số sim: 0961.666.637; Số imei: 354786254886381 của Vũ Ngọc H, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy;
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh, gắn số sim: 0938.066.639; Số imei: 358547847094263 và 01 (một) đầu thu KB VISION Digital video recorder KX-A7104SD6 S/N: 6L00BFCPAZ1846A của Nguyễn Hữu D, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy.
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu xám đen, số Imei: 359265388641157, số sê-ri: CC6TM6VQ0R, lắp sim số: 0965492468 của Trần Trọng T, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy.
* Trả lại cho anh Phạm Phi H1 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh rêu, số Imei: 35756969032051, gắn sim số: 0969130252 của Phạm Phi H1, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy.
(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 10/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm)
Việc xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Lâm đã trả lại cho:
- Nguyễn Hoàng An: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 15 Pro màu xám, gắn số sim: 0905407733; Số imei: 358348182693219. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy; - Nguyễn Văn Hiệu: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 13 Pro màu xám, gắn số sim: 0396163578; Số imei: 350165055392408. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy; - Hoàng Thanh Phát: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, gắn số sim: 09067166789; Số imei: 359213072552579. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy; - Nguyễn Thị Tuyết Sương: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím, số Imei 1: 357397701650581, bên trong điện thoại gắn sim 0948479460, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy và 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng đồng, số Imei: 357264090247926, gắn sim số: 0943760405, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy; - Nguyễn Phương Linh: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, số Imei: 356113096717799, gắn sim số 0924391500, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy; - Đỗ Xuân Trúc: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím, gắn sim số: 0908871508, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy. Do vậy HĐXX không xem xét.
Các hành vi khác:
Đối với Nguyễn Thành Luân: Quá trình đấu tranh làm việc, đối chất nhiều lần nhưng Luân không thừa nhận hành vi lấy hộ ma tuý cho Vũ Ngọc H, trong khi có có tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý đối với Luân trong vụ việc trên; Do vậy HĐXX không xem xét.
Đối với đối tượng mà Q khai nhận mua ma tuý tại ngã 3 Đại Bình (phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm đã thông báo thông tin về tội phạm gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bảo Lộc để xác minh, xử lý theo thẩm quyền; Do vậy HĐXX không xem xét.
Đối với Đỗ Xuân Trúc, Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Thị Tuyết Sương, Huỳnh Trí Kiệt, Phạm Phi H1, Võ Thanh Hiền: những người nêu trên không có hành vi chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy; không rủ rê, lôi kéo người khác sử dụng ma tuý nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Đỗ Xuân Trúc, Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Thị Tuyết Sương, Huỳnh Trí Kiệt, Phạm Phi H1 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an huyện Bảo Lâm đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 23, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, mức phạt của mỗi người là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng); Do vậy HĐXX không xem xét.
Đối với Nguyễn Hoàng An, Nguyễn Văn Hiệu, Hoàng Thanh Phát không có hành vi chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy hoặc rủ rê, lôi kéo người khác sử dụng ma tuý; đồng thời không có căn cứ xác định An, Hiệu, Phát đã sử dụng trái phép chất ma tuý (kết quả xét nghiệm An, Phát, Hiệu âm tính với chất ma tuý) nên không có căn cứ xử lý hình sự và hành chính đối với Nguyễn Hoàng An, Nguyễn Văn Hiệu, Hoàng Thanh Phát; Do vậy HĐXX không xem xét.
Về án phí, lệ phí tòa án: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu D, Vũ Ngọc H, Vũ Hoàng Minh Q, Trần Trọng T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54 Điều 38 Bộ luật hình sự;
1.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 17/3/2024.
1.2 Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc H 04(Bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 17/3/2024.
1.3 Xử phạt bị cáo Trần Trọng T 04(Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 17/3/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự;
1.4 Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng Minh Q 07(Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 17/3/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì kích thước 20cm X 14,4cm trên phong bì có ghi dòng chữ “CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG, Số: 377/2024-PC09” (trong phong bì đựng 0.4003g ketamin mẫu vật M2 và 0,6846g ketamin mẫu vật M3 theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận đối tượng giám ngày 22/03/2024);
- 01 (một) hộp giấy màu trắng kích thước 17cm X 23cm X 27cm, được niêm phong bên trong có (01 đĩa sứ màu cam có dòng chữ “hermes”, 01 thẻ sim điện thoại nhãn hiệu “vinaphone” theo biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám ngày 18/03/2024 và biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận đối tượng giám ngày 22/03/2024);
* Tịch thu sung Ngân sách nhà nước:
- 01 một ống hút tự chế được quấn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ, hai đầu được bọc bằng vỏ đầu lọc thuốc lá;
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng, số Imei: 359871975573941, số sê-ri: F2LF491Y0D41, lắp sim số: 0971417151 của Vũ Hoàng Minh Q, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy.
- 01 (một) bộ chơi nhạc DJ hiệu Opus-Quad, màu đen, 01 (một) cặp loa điện tử màu trắng hiệu KRK, 01 (một) cặp loa điện tử màu đỏ hiệu Monkey Banana của Trần Trọng T.
* Trả lại cho các bị cáo tài sản, đồ vật nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án gồm:
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh, gắn số sim: 0961.666.637; Số imei: 354786254886381 của Vũ Ngọc H, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy;
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh, gắn số sim: 0938.066.639; Số imei: 358547847094263 và 01 (một) đầu thu KB VISION Digital video recorder KX-A7104SD6 S/N: 6L00BFCPAZ1846A của Nguyễn Hữu D, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy.
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu xám đen, số Imei: 359265388641157, số sê-ri: CC6TM6VQ0R, lắp sim số: 0965492468 của Trần Trọng T, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy.
* Trả lại cho anh Phạm Phi H1 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh rêu, số Imei: 35756969032051, gắn sim số: 0969130252, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy.
(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 10/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm)
3. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Hữu D, Vũ Ngọc H, Vũ Hoàng Minh Q, Trần Trọng T mỗi bị cáo pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lâm Đồng (2);
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND huyện Bảo Lâm;
- Chi cục THADS H Bảo Lâm;
- Bị cáo;
(Đã ký)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Lưu hồ sơ.
Trần Thị Hà Vi HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Trần Thị Hà Vi
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (2); - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Bảo Lâm; - Chi cục THADS H Bảo Lâm; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu hồ sơ. HỘI THẨM NHÂN DÂN Phan Thị Hà Hồ Đình Quảng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hà Vi THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Hà Vi |