vanban.org

Bản án 07/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 07/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Minh L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Ngô Minh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2024. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Minh L - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Minh L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
———————
Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày 07-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung.

2. Ông Từ Anh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tương Vy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 425/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 420/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Ngô Minh L, sinh năm 1969 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Khu phố T, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: Số F đường số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Ngô Minh L1, sinh năm 1937 (đã chết) và bà Bùi Thị P, sinh năm 1938; có 01 em ruột, sinh năm 1975; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1974 (đã ly hôn), có 01 con ruột, sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

- Ngày 20/6/1996, bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 48 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 68/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/12/1999;

- Ngày 12/01/2017, bị Công an phường A, thị xã D (nay là thành phố D) ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” với số tiền 2.500.000 đồng, theo Quyết định số: 01/QĐ-XPVPHC, đóng tiền phạt ngày 20/01/2017;

- Ngày 13/9/2017, bị Công an thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương ra quyết định xử phạt hành hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” với số tiền 3.000.000 đồng, theo Quyết định số: 238/QĐ-XPVPHC, đóng tiền phạt ngày 15/9/2017;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/8/2024 cho đến ngay; có mặt tại phiên tòa.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1971; ông Phan Trung T, sinh năm 1983; bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1979; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 30/8/2024, Ngô Minh L và bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1979; thường trú: Số A, K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đi nhậu về đến quán Cơm “47” do bà H làm chủ tại địa chỉ số G đường số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khi về đến quán cơm, L xảy ra cự cãi với bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1971; thường trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận là người phụ bếp đang bán cơm tại quán. Cùng lúc, L chửi bà C, thấy vậy bà H chở L về nhà tại địa chỉ số F đường số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương cách quán cơm khoảng 500m để nghỉ ngơi. Lúc này, vì sợ L ra ngoài gây chuyện nên bà H khóa cửa nhà lại rồi quay lại quán cơm để làm việc. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, L bực tức bà C nên L đi xuống bếp cầm 01 con dao dài 30cm để mang đi đánh bà C, L lên trên lầu 01 mở cửa ban công leo ra ngoài thông qua cây trụ điện cạnh nhà, rồi L đi bộ đến quán C1 “47”. Khi bà H nhìn thấy L cầm dao đi đến thì bà H sợ L đánh mình nên lấy xe mô tô chạy đi, L đi vào quán cơm thấy bà C đang đứng ở cửa quán, L cầm dao ở tay phải chạy đến chỗ bà C để chém bà C. Thấy L cầm dao chạy đến, bà C bỏ chạy ra ngoài đường số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Lúc này, L vừa la hét vừa cầm dao chạy đuổi theo phía sau bà C đòi chém bà C nhưng không trúng, chạy được khoảng 100m thì bà C chạy vòng lại. L vẫn tiếp tục la hét và cầm dao chạy đuổi theo chém bà C, khi chạy đến cách quán cơm khoảng 10m, lúc này ông Phan Trung T đang ăn cơm trong quán cùng người dân chạy ra khống chế L, tước bỏ con dao. Cùng lúc, lực lượng Công an phường A, thành phố D đi tuần tra phát hiện bắt giữ Ngô Minh L đưa về trụ sở làm việc, tại cơ quan Công an, Ngô Minh L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) con dao dài 30cm, cán bằng gỗ màu nâu.

Tại Cáo trạng số: 09/CT-VKS-DA ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Ngô Minh L về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Ngô Minh L với mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

* Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) con dao dài 30cm, cán bằng gỗ màu nâu, là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 30/8/2024, tại đường số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Ngô Minh L đã có hành vi la hét và dùng 01 con dao dài 30cm, cán bằng gỗ màu nâu đuổi chém bà Nguyễn Thị C trên đường gây náo loạn, làm mất trật tự nơi công cộng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Ngô Minh L dùng hung khí nguy hiểm, rượt đuổi đánh người khác tại khu dân cư đông người đã xâm phạm đến trật tự công công, an ninh xã hội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 09/CT-VKS-DA ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo L là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự chung nơi công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc của cuộc sống, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở nơi công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi làm náo động trật tự ở nơi công cộng là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là người đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, bị Cơ quan hành chính Nhà nước xử phạt về hành vi “Xâm phạm đến sức khỏe người khác”, đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. [8] Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm xâm phạm an toàn công cộng, đến quy tắc sinh hoạt, đi lại nơi công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) con dao dài 30cm, cán bằng gỗ màu nâu, là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Minh L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Ngô Minh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài 30cm, cán bằng gỗ màu nâu.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/12/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Minh L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ