- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Quốc Huy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TPNĐ TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 15-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TPNĐ, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang;
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Hồng Hải;
Ông Nguyễn Tiến Dũng.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Phương Thuỷ – Thư ký Toà án nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 300/2024/HSST ngày 25 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2025/HSST-QĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Quốc H, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2006 tại TPNĐ, tỉnh Nam Định; số CCCD: 036206030697; nơi đăng ký thường trú: Số nhà 35 đường Thành N, phường Vị X, TPNĐ, tỉnh Nam Định; nơi ở: Số 13/4 đường Nguyễn T, phường Vị X, TPNĐ, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức K (Đã chết) và bà Lâm Thị Kim Q; vợ con: Không; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 07 tháng 10 năm 2024 đến ngày 12 tháng 10 năm 2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; tại phiên toà, bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Nga - Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định; có mặt.
- Bị hại: Bà H, sinh năm 1972;
Nơi cư trú: Số 149 Bến Ngự, phường Trần Hưng Đ, TPNĐ, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Người làm chứng:
Ông Trần Văn C;
Ông Trần Thế T;
Anh Lê Nguyễn Trung H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/10/2024, Vũ Quốc H đi xe máy điện biển số 29MĐ2-064.95 đến nhà Lê Nguyễn Trung H, sinh ngày 17/02/2010 ở số 93 Hàng Sắt, phường Trần Hưng Đ, TPNĐ, tỉnh Nam Định rủ H đi tìm người sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 10 giờ 55 phút cùng ngày, H chở H đến chợ Rồng đường Bà T, phường Cửa B, TPNĐ dựng xe dưới lòng đường rồi cả hai đến khu vực sạp hàng số 649 ở tầng 1 phát hiện thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 của bà H để trên mặt quầy hàng, không có người trông coi liền cùng nhau chiếm đoạt. H tiếp cận sạp hàng nhặt điện thoại giấu vào bụng áo rồi cùng H ra xe để tẩu thoát. Lúc này, bà N phát hiện liền tri hô thì H bỏ chạy về phía đường Phạm Hồng T còn H chạy về phía đường Nguyễn C. Bà N đuổi theo H và liên tục tri hô đến trước cửa số nhà 36 đường Phạm Hồng T thì H bị tổ tuần tra Công an phường Cửa B, TPNĐ cùng quần chúng nhân dân bắt giữ. Tại đây, H giao nộp chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt. Tổ tuần tra đã đưa H cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Cửa B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vũ Quốc H sau khi bỏ chạy thấy không có người đuổi theo đã quay lại lấy xe máy điện đi về nhà. Đến 22 giờ cùng ngày, H đến Công an phường Cửa B, TPNĐ đầu thú. Công an phường Cửa B đã hoàn thiện hồ sơ ban đầu và cHển đến Công an TPNĐ giải quyết theo thẩm quyền.
Bản kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TPNĐ kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh, dung lượng 128 GB của bà Đặng Thị Nguyệt trị giá là 11.000.000đ (Mười một triệu đồng).
Tại cơ quan điều tra, Vũ Quốc H và Lê Nguyễn Trung H khai nhận toàn bộ hành vi cùng nhau chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 13 của bà H tại chợ Rồng TPNĐ như trên. Bà N đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc điện thoại và không có yêu cầu bồi thường gì.
Chiếc xe máy điện biển số 29MĐ2-064.95 được Vũ Quốc H sử dụng làm phương tiện chở Lê Nguyễn Trung H đi thực hiện hành vi phạm tội được xác định là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị B, sinh năm 1965; trú tại: Số nhà 23/8 đường Trần Nhật Duật, phường Vị X, TPNĐ, tỉnh Nam Định. Chiếc xe này do cháu nội bà B là Hoàng Trung H, sinh năm 2010 tự ý cho Vũ Quốc H mượn và không biết H sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe này cho bà B.
Đối với Lê Nguyễn Trung H, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bà H mới 14 năm 07 tháng 24 ngày tuổi nên hành vi không cấu thành tội phạm. Do đó, Công an TPNĐ đã xử lý hành chính đối với H về hành vi này.
Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-TPNĐ ngày 25/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Vũ Quốc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; xác định bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.
Tại phiên toà, Vũ Quốc H khai nhận hành vi của mình như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố; xác nhận kết luận định giá về giá trị chiếc điện thoại của bị hại là đúng; Viện kiểm sát truy tố là không oan, xin nhận trách nhiệm về hành vi, hậu quả đã gây ra. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù. Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo xác định về tội danh và điều luật Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định cho bị cáo được hưởng mức án theo đề nghị thấp nhất của Viện kiểm sát và áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo nhận tội và trình bày lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử cho được tự cải tạo để sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TPNĐ cũng như Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ cũng như Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo, bị hại cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06 tháng 10 năm 2024; sơ đồ và biên bản xác định nơi xảy ra vụ việc; lời khai bị hại và người làm chứng cũng như toàn bộ lời khai bị cáo tại cơ quan điều tra. Từ các tình tiết chứng cứ này đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 55 phút ngày 06/10/2024, tại chợ Rồng phường Cửa B, TPNĐ, tỉnh Nam Định. Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác, Vũ Quốc H cùng với Lê Nguyễn Trung H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là một chiếc điện thoại di động nhã hiệu IPhone 13 trên sạp hàng số 649 của bà H có trị giá là 11.000.000đ (Mười một triệu đồng). Do Lê Nguyễn Trung H khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản mới 14 năm 07 tháng 24 ngày tuổi. Căn cứ quy định của pháp luật, Công an TPNĐ xác định hành vi của H không đủ yếu tố cấu thành cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên chỉ xử lý hành chính đối với H và xử lý hình sự đối với Vũ Quốc H là hoàn toàn đúng đắn.
Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Quốc H là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã chủ động về phương tiện cũng như phương thức thực hiện hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, là khách thể được pháp luật Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, bị cáo ngang nhiên thực hiện hành vi giữa ban ngày tại chợ đông người, điều đó thể hiện sự liều lĩnh táo bạo, bất chấp xung quanh và coi thường pháp luật của bị cáo. Hành vi đó không những gây bất bình, phẫn nộ trong quần chúng nhân dân mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người bình thường về thể chất và tâm thần, nhận thức rõ được những việc làm sai trái vi phạm pháp luật thì lẽ ra phải biết tu dưỡng, rèn luyện và lao động hữu ích để tạo ra của cải vật chất cho gia đình, xã hội. Nhưng trái lại, với lối sống buông thả, ham chơi lười lao động, không chịu rèn luyện và tu dưỡng nên bị cáo đã không làm chủ được bản thân trước cám dỗ vật chất đời thường. Việc bị cáo sử dụng xe máy điện, rủ rê lôi kéo trẻ em đến chợ tìm người sơ hở để chiếm đoạt tài sản là hành vi hết sức xa lạ và táo bạo. Hành vi đó của bị cáo là vi phạm pháp luật Nhà nước, trái với đạo đức xã hội. Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Vì vậy, bị cáo sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mình.
Về trách nhiệm hình sự: Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, khách thể được pháp luật bảo hộ bị xâm phạm, hậu quả nguy hại cho xã hội thì đối với bị cáo cần phải áp dụng biện pháp giáo dục nghiêm để cải tạo, giáo dục là thoả đáng; đồng thời cũng mới đáp ứng được yêu cầu răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét về nhân thân thì bị cáo không có tiền án, tiền sự; hành vi phạm tội của bị cáo không có tình tiết nào bị coi là tình tiết tăng nặng; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên có phần hạn chế về nhận thức; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú khai báo thành khẩn, nhận thức lỗi lầm, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Đây là những tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước. Xét mức án Viện kiểm sát đề nghị áp dụng để cải tạo bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị này và sẽ cân nhắc để ấn định một mức án đủ để cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 91; Điều 101; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Vũ Quốc H 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 07 tháng 10 năm 2024 đến ngày 12 tháng 10 năm 2024.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TPNĐ; - Công an TPNĐ; - Chi cục THADS TPNĐ; - Hồ sơ vụ án; - Lưu: VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đoàn Hồng Hải – Nguyễn Tiến Dũng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Quang THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Quang |