- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đườ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên hoàn trả
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 18/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Sẩm.
Ông Phạm Văn Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Sương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Kim Chăm - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B (tên thường gọi là Thành), sinh năm 1992, tại tỉnh Đồng Th. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp 4, xã Ba S, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp;
Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Thị N.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Đoàn Kim C, sinh năm: 1987.
Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp Bàu Đ, xã Phước Th, huyện Củ Ch, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Trần Thị Kim L, sinh năm 2009; Nơi đăng ký thường trú: Ấp Bàu Đ, xã Phước Th, huyện Củ Ch, thành phố Hồ Chí Minh (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
2/ Trần Văn Hải, sinh năm 1976; Trú tại: Tổ 7, khóm 1, thành phố Cao L, tỉnh Đồng Tháp (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 03/8/2024, ông Trần Văn H thuê Nguyễn Văn B lái ô tô tải biển số 66C-069.92 đến huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre mua heo và chở heo đến tỉnh Long An bán (bị cáo có giấy phép lái xe hạng C). Khoảng 08 giờ 48 phút cùng ngày, B điều khiển xe trên chở ông Hải và 15 con heo (khoảng 1,5 tấn) lưu thông trên tuyến tránh Quốc lộ 60 hướng từ cầu Mỏ Cày 2 đến cầu Hòa Lộc 2, khi đến Km 30+200 tuyến tránh Quốc lộ 60 ấp Tân Lộc, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, B điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái để vượt xe ô tô 07 chỗ đang chạy cùng chiều phía trước, dẫn đến va đụng vào xe mô tô hai bánh biển số 59Y3-335.80 do ông Trần Hoàng V, sinh năm 1980, ở ấp Bàu Điều, xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh điều khiển chở theo con ruột là Trần Thị Kim L, sinh năm 2009 lưu thông hướng ngược lại. Hậu quả làm ông V tử vong tại hiện trường, cháu Kim Lý bị sây sát nhẹ; 02 xe hư hỏng.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 93/KLGĐTT-KTHS ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận: “Nạn nhân Trần Hoàng V chết do đa chấn thương”; phiếu xét nghiệm nồng độ Ethanol (cồn) trong máu: 00 mg/100ml; phiếu xét nghiệm ma túy âm tính.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 386/KLTTCT-TTPYBT ngày 07/11/2024 kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Trần Thị Kim L là 13%.
Tại bản kết luận giám định số: 5126/KL-KTHS ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
+ Ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông, hệ thống phanh và hệ thống lái của xe ô tô tải iển số: 66C - 069.92 hoạt động ình thường, không bị hư hỏng.
+ Không đủ điều kiện xác định trình trạng kỹ thuật hệ thống đèn và còi của xe ô tô tải iển số: 66C - 069.92.
+ Không đủ điều kiện xác định tốc độ của xe ô tô tải iển số: 66C - 069.92 khi tham gia tai nạn giao thông.
Tại bản kết luận giám định số 4959/KL-KTHS ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
+ Dấu vết cong biến dạng, trượt xước bám chất màu đen, màu đỏ các chi tiết ên trái phía trước xe ô tô biển số 66C – 069.92 (gồm: bên trái cản trước, bên trái ốp đầu, phía trước cửa bên trái buồng lái, hệ thống đèn trước bên trái) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết cong biến dạng, gãy vỡ, trượt xước bám chất màu vàng các chi tiết ên trái phía trước xe mô tô biển số 59Y3 – 335.80 (gồm: giỏ đựng hàng, ốp đầu, tay lái, yếm, cung trước chắn ùn ánh trước, hệ thống đèn trước bên trái) có chiều hướng từ trước về sau.
+ Bên trái phía trước xe ô tô biển số 66C – 069.92 và bên trái phía trước xe mô tô biển số 59Y3 – 335.80 là vị trí va chạm đầu tiên.
+ Vị trí va chạm đầu tiên chiếu xuống mặt đường giữa hai xe trên thuộc phần đường bên trái tuyến tránh Quốc lộ 60, theo hướng từ cầu Mỏ Cày 2 đến cầu Hòa Lộc 2.
* Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Văn B là 00mg/100ml. Kết quả xét nghiệm ma tuý Nguyễn Văn B âm tính.
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS MCN ngày 13 tháng 01 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo giữ nguyên lời khai như trong quá trình điều tra, truy tố và thừa nhận hành vi đã thực hiện theo nội dung ản cáo trạng; những người tham gia tố tụng khác khai nhận phù hợp với các tình tiết trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, cho rằng: Việc truy tố hành vi của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bảo lưu toàn ộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật Hình sự; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo và đại diện hợp pháp cho người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thoả thuận bồi thường xong, không ai yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự,điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mỏ Cày Nam đã trả cho bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan các tài sản theo quyết định xử lý vật chứng số 652/QĐ-ĐTTH ngày 04/10/2024; Đối với 01 giấy phép lái xe số 870228003457, hạng C mang tên Nguyễn Văn B là tài sản hợp pháp của bị cáo, nên tuyên hoàn trả cho bị cáo là phù hợp.
- Vê án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định của pháp luật.
Về hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo điều khiển phương tiện tham gia giao thông nhưng thiếu quan sát, tránh vượt không tuân thủ các nguyên tắc đảm bảo an toàn đã xâm phạm trực tiếp đến mạng sống của người bị hại, các kết luận của cơ quan chuyên môn về nguyên nhân gây tai nạn, nguyên nhân tử vong của người bị hại có đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam truy tố hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị cáo thật thà khai áo, ăn năn hối cãi, người đại diện hợp pháp cho người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi cha mẹ già và 02 con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét áp dụng trong quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Xét tính chất của vụ án, mặc dù bị cáo điều khiển xe gây tai nạn dẫn đến chết người, nhưng lỗi vô ý, bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, kết quả diễn biến tại phiên toà cho thấy bị cáo đã thật sự ăn năn hối hận, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi ị cáo cư trú kết hợp cùng gia đình ị cáo giám sát giáo dục cũng đủ để giúp bị cáo học tập cải tạo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo và đại diện hợp pháp cho người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thoả thuận bồi thường xong, đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm các khoản nào khác, nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam đã trả cho bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan các tài sản theo quyết định xử lý vật chứng số 652/QĐ-ĐTTH ngày 04/10/2024; Đối với 01 giấy phép lái xe số 870228003457, hạng C mang tên Nguyễn Văn B là tài sản hợp pháp của bị cáo, nên tuyên hoàn trả cho bị cáo là phù hợp.
Về nghĩa vụ chịu tiền án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B (tên thường gọi là Thành) 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/3/2025)
Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho UBND xã Ba Sao, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp kết hợp cùng gia đình ị cáo B giám sát giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo và đại diện hợp pháp cho người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thoả thuận bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường thêm các khoản nào khác, nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Văn B 01 giấy phép lái xe số 870228003457, hạng C (có đặc điểm như iên ản thu giữ).
Về nghĩa vụ chịu tiền án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. ơi nhận:
TM .HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bến Tre;
| - VKSND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Mỏ Cày Nam; - Phòng HSNV Công an tỉnh Bến Tre; - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam; - Đương sự; - Lưu HS; | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ đã ký |