vanban.org

Bản án 07/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Huế, TP. Huế Tuyên án 12/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ng phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Ng 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ng phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - HUẾ
THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày: 12/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Hoàng Ái Thụy và ông Huỳnh Văn Vy.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Huế, thành phố Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Huế, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Huế, thành phố Huế - số N đường L, xã P, thành phố Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2025, đối với:

Bị cáo Trần Văn Ng, tên gọi khác: Không, sinh ngày 01 tháng 3 năm 1963, tại thành phố Huế; nơi cư trú: Tổ M (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế; căn cước công dân số: 046063010XXX do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 15/8/2021; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần D (chết) và bà Bùi Thị S (chết); vợ: Lê Thị L, sinh năm 1968; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1987 và nhỏ nhất sinh năm 1995;

Nhân thân: Nhỏ sống với bố mẹ, học văn hóa đến lớp 9 thì nghỉ học, ở nhà cho đến nay.

Năm 1989, bị Công an huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ), khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội: “Cố ý gây thương tích”. Sau đó, bị hại rút đơn nên vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật (Kết luận điều tra số: 01, ngày 12/01/1990).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/3/2025 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Anh Văn Viết Tr, sinh năm 1994; địa chỉ: Số A, kiệt B đường D, Tổ E (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế; có mặt.

- Nguyên đơn dân sự:

Công ty Cổ phần M; địa chỉ: Tòa Văn phòng S, đường H, khu đô thị R, phường L, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thành L, sinh năm 1973; chức danh: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Anh Q, sinh năm: 1992; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố Huế và ông Hồ Huy N, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường M, thành phố Huế, ông Q vắng mặt, ông N có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lê Đức N, sinh năm: 1986; địa chỉ: Tổ S (phường T cũ), nay là phường H, thành phố Huế; có đơn xin vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Lê Văn Đ, sinh năm: 1965; địa chỉ: Số V đường N, Tổ C (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế; vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1966; địa chỉ: Tổ V1 (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế; vắng mặt.

+ Ông Võ Thành T, sinh năm: 1967; địa chỉ: Tổ V2 (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế; vắng mặt.

+ Bà Ngô Thị Th, sinh năm: 1983; địa chỉ: Tổ V3 (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế; vắng mặt.

+ Ông Hồ H, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ V3 (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế; vắng mặt.

+ Bà Lê Thị L, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ M (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế (là vợ của bị cáo Ng; có mặt).

+ Bà Võ Kim Q, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ V3 (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/01/2025, anh Lê Văn Đ (sinh năm 1991, trú tại Số V đường N, Tổ C (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát: 75C-051.XX (xe ô tô của anh Lê Đức N, sinh năm 1986, trú tại Tổ S (phường T cũ), nay là phường H, thành phố Huế) trên xe có bà Nguyễn Thị H (sinh năm 1966, trú tại Tổ V1 (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế) cùng với Trần Văn Ng, chạy trên đường bê tông kiệt V7 (từ đường D ra đường N); khi xe ô tô tải chạy ngang qua trước số nhà H thuộc tổ V1(phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế, thì gặp anh Văn Viết Tr (sinh năm 1994, trú tại Số A, kiệt B đường D, Tổ E (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế, là nhân viên lái xe của Công ty cổ phần S chi nhánh thành phố Huế, đang rửa xe ô tô taxi, biển kiểm soát: 75E-009.XX (xe của Công ty), đỗ chắn giữa đường, làm xe ô tô tải 75C-051.XX, không đi được. Thấy vậy, Ng nói với anh Tr điều khiển xe ôtô 75E-009.XX vào sát lề đường để xe tải đi qua nhưng anh Tr không nghe và nói Ng quay xe ô tô tải đi hướng khác thì hai bên xảy ra mâu thuẫn. Ng đã lấy mũ cối đang đội trên đầu cầm ở tay phải xông đến đánh liên tiếp 03 cái vào người của anh Tr nên anh Tr bỏ chạy vào nhà. Sau đó, bà H và anh Đ đã can ngăn Ng và anh Tr ra. Ng tiếp tục đi ra ngoài sân nhặt 01 cục đá, cầm ở tay phải rồi xông vào nhà của anh Tr bằng cửa hông phía sau xông đến đứng đối diện với anh Tr dùng đá đánh 01 cái trúng vào đầu, sượt vào má trái của anh Tr làm cục đá rơi xuống nền nhà. Anh Tr dùng tay phải đánh trả 01 cái trúng vào vùng mặt của Ng, rồi lấy 01 cây rựa ở chân cầu thang cầm ở tay phải vung qua vung lại trước mặt Ng; Ng cũng lấy mũ cối cầm ở tay phải đánh về phía anh Tr nhưng trượt nên làm mũ cối rơi xuống nền nhà; anh Tr tiếp tục vung rựa qua lại trước mặt Ng và khi Ng cúi người xuống nhặt mũ cối để tiếp tục đánh anh Tr thì bị anh Tr vung rựa trúng vào vùng trán phía trước bên trái và tay trái gây thương tích. Lúc này, bà H chạy đến ôm Ng lại, anh Đ ôm anh Tr rồi giật lấy cây rựa ném xuống nền nhà. Ng vùng ra được rồi tiếp tục dùng tay trái cầm cổ áo của anh Tr và kéo ra phía sau vườn thì bị anh Tr dùng tay đẩy vào người làm đầu của Ng chạm vào tường nhà làm rách da đầu. Ng dùng tay trái tỳ đè anh Tr xuống nền đất và dùng tay phải đánh khoảng 03 cái vào người của anh Tr thì anh Đ đến căn ngăn Ng nên anh Tr thoát chạy thì Ng nhặt cục đá đuổi theo đánh nhưng không kịp. Sau đó, Ng nhặt cục đá (không rõ hình dạng, có kích thước: (36cm x 19cm x 12cm) trên đường bê tông, rồi cầm ở tay phải đi đến vị trí xe ôtô 75E-009.91 đang đỗ ném 01 cái làm vỡ kính chắn gió phía sau xe, cục đá rơi vào bên trong xe. Sau đó, người dân can ngăn nên Ng dừng lại, được người nhà đưa đi bệnh viện.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Trần Văn Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) cục đá không rõ hình dạng, kích thước (36 x 19 x 12)cm;

- Các mảnh vỡ thủy tinh, màu đen, có các kích thước khác nhau;

- 01 (một) đám mảnh vỡ thủy tinh, màu đen, được dính lại với nhau;

- 01 (một) xe ô tô taxi biển kiểm soát: 75E-009.XX, nhãn hiệu: S, loại xe: S1, màu xanh;

- 01 (một) cục gạch không rõ hình dạng kích thước (11 x 8,5 x 4,5)cm;

- 03 (ba) mảnh thủy tinh không rõ hình dạng, trong suốt, có dính nhiều bụi bẩn;

- 01 (một) đám chất màu nâu đỏ;

- 01 (một) cây rựa (dài 74,5cm, trong đó: cán được làm bằng gỗ dài 44,5cm, lưỡi làm bằng kim loại (30 x 5,5)cm;

- 01 (một) mũ cối, được bọc vải màu xanh kích thước (31 x 26 x 16)cm;

- 01 (một) đám chất màu nâu đỏ;

- 01 (một) cục đá không rõ hình dạng (10,5 x 0,9 x 0,4)cm, mặt ngoài có dính chất màu nâu đỏ;

- 01 (một) xe ôtô tải biển kiểm soát: 75C-051.XX, nhãn hiệu: KIA, loại xe: 1.100kg, màu xanh.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã xử lý vật chứng, trả lại 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát: 75C-051.XX và 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát: 75E-009.XX cho các chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Các vật chứng còn lại chuyển cho Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã H (nay thuộc Thi hành án dân sự thành phố Huế) để bảo đảm cho việc xét xử và thi hành án.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 17/KL-HĐĐGTS ngày 23/02/2025, của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thị xã H, kết luận: Giá trị thiệt hại của kính chắn gió phía sau xe ô tô taxi biển kiểm soát: 75E-009.XX là: 6.148.104 đồng (sáu triệu một trăm bốn mươi tám nghìn một trăm lẻ bốn đồng).

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 61/25/KLTTCT ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y thành phố Huế, kết luận thương tích của anh Văn Viết Tr như sau:

- Kết quả khám giám định:

+ Chấn động não điều trị ổn định: 02%;

+ Vết biến đổi da má trái: 0,5%;

+ Các tổn thương sưng nề bầm tím vùng chẩm, rách da đầu trái đã lành không còn dấu vết: 0%;

+ Tổn thương sưng nề bầm tím cổ sau đã lành không còn dấu vết: 0%;

+ Vùng ngực hiện đã lành không ảnh hưởng chức năng: 0%.

Kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Văn Viết Tr tại thời điểm giám định là: 2% (hai phần trăm).

- Vật gây, cơ chế hình thành, chiều hướng tác động: Các tổn thương sưng nề bầm tím vùng đầu, cổ sau và ngực hiện đã lành không còn dấu hiệu, phù hợp do vật tày tác động; Tổn thương rách da nông đầu trái phù hợp do vật tày có cạnh tác động sượt qua; Rách má nông má trái phù hợp do vật tày có cạnh tác động sượt qua theo hướng từ cằm đến thái dương.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 62/25/KLTTCT ngày 23 tháng 02 năm 2025 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y thành phố Huế, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Văn Ng như sau:

- Kết quả khám giám định:

+ Tổn thương xây xát đỉnh đầu hiện đã lành trùng màu da: 0%;

+ Vết sẹo nhỏ đầu trái phía trước: 1%;

+ Chấn động não điều trị ổn định: 1%;

+ Gãy xương mũi điều trị ổn định, không ảnh hưởng chức năng thở: 7%;

+ Vết thương đốt xa ngón III tay trái đang liền sẹo tốt: 0,5%.

- Kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn Ng tại thời điểm giám định là: 9% (chín phần trăm).

- Vật gây, cơ chế hình thành, chiều hướng tác động: Tổn thương xây xát đỉnh đầu phù hợp do tác động tương hỗ với vật tày; Vết thương đầu trái phía trước phù hợp do vật sắc tác động theo hướng từ trên xuống dưới; Chấn thương vùng mũi gãy xương mũi phù hợp do vật tày tác động theo hướng trước sau; Vết thương cạnh bên ngón III tay trái phù hợp do vật sắc tác động theo phương nằm ngang.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Văn Ng đã bồi thường thiệt hại về dân sự cho bị hại là anh Văn Viết Tr với số tiền là 7.000.000 đồng và đã bồi thường cho Nguyên đơn dân sự là Công ty cổ phần S với số tiền là 18.148.104 đồng.

Ngày 19/2/2025, Trần Văn Ng và Văn Viết Tr đều có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự về hành vi cố ý gây thương tích của Ng đối với anh Tr và của anh Tr đối với Ng.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKS-HTh ngày 11/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, thành phố Huế (nay thuộc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Huế) đã truy tố bị cáo Trần Văn Ng về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Ng phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Văn Ng từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng.

Bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, bị cáo hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H (nay thuộc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Huế), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tư cách tham gia tố tụng: Xe ô tô S1 biển kiểm soát: 75E-009.XX theo Giấy chứng nhận đăng ký là của Công ty cổ phần S, bị thiệt hại và Công ty có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại nên theo quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xác định Công ty cổ phần S là nguyên đơn dân sự.

Về hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại kiệt V7 đường D, thuộc tổ V1 (phường T cũ), nay là phường T, thành phố Huế; do mâu thuẫn trong việc dừng, đỗ xe khi lưu thông trên đường giao thông, nên dẫn đến việc gây sự và đánh nhau gây thương tích giữa bị cáo Trần Văn Ng và anh Văn Viết Tr. Sau đó, Trần Văn Ng đã dùng cục đá kích thước (36 x 19 x 12) cm ném trúng vào kính chắn gió phía sau xe ô tô S biển kiểm soát: 75E-009.XX do anh Văn Viết Tr quản lý, làm hư hỏng, thiệt hại đã được kết luận tại bản Kết luận định giá tài sản số: 17/KL-HĐĐGTS ngày 23/02/2025, trị giá: 6.148.104 đồng (sáu triệu một trăm bốn mươi tám nghìn một trăm lẻ bốn đồng). Hành vi của bị cáo Ng đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H (nay thuộc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Huế) đã truy tố bị cáo theo bản Cáo trạng số 35/CT-VKS-HTh ngày 11/6/2025 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Ng là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì mâu thuẫn trong trong việc dừng, đỗ xe và lưu thông trên đường mà dẫn đến đánh nhau với anh Văn Viết Tr và tiếp tục có hành vi đập phá tài sản gây thiệt hại đối với xe ô tô kiểm soát: 75E-009.XX do anh Văn Viết Tr quản lý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của tổ chức được Nhà nước bảo hộ mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị cáo đã từng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân bị cáo Trần Văn Ng có nhân thân xấu đã từng bị Công an huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội: “Cố ý gây thương tích”, sau đó, bị hại rút đơn nên vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật.

Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo đã thực hiện hành vi 02 lần xông vào nhà anh Văn Viết Tr dẫn đến việc đánh nhau giữa hai bên gây thương tích, khi sự việc đánh nhau giữa bị cáo với bị hại đã kết thúc bị cáo tiếp tục có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Bị cáo có nhân thân xấu, nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Bị cáo Ng được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị cáo bị truy tố cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Ng không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với hành vi gây thương tích giữa bị cáo Trần Văn Ng với anh Văn Viết Tr và ngược lại giữa anh Tr với bị cáo Ng, thì bị cáo Ng đã thoả thuận bồi thường cho anh Tr với số tiền là 7.000.000 đồng và anh Tr cũng đã bồi thường cho bị cáo Ng số tiền 4.000.000 đồng; sự thoả thuận này là tự nguyện và không ai có yêu cầu thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với hành vi gây thiệt hại đến tài sản là xe ô tô biển kiểm soát 75E-009.XX của Công ty cổ phần S thì bị cáo Trần Văn Ng đã bồi thường cho Công ty với số tiền là 18.148.104 đồng. Bị hại và nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng liên quan đến tội danh “Cố ý làm hư hỏng tài sản” mà bị cáo Trần Văn Ng bị truy tố đã được Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thuỷ (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- thành phố Huế) chuyển theo Quyết định số 28/QĐ-VKSHTh ngày 11/6/2025, thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/8/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Huế), gồm: 01 (một) cục đá không rõ hình dạng, kích thước (36 x 19 x 12)cm; Các mảnh vỡ thủy tinh, màu đen, có các kích thước khác nhau; 01 (một) đám mảnh vỡ thủy tinh, màu đen, được dính lại với nhau. Vật chứng (cục đá) là công cụ, phương tiện phạm tội; các mảnh vỡ thuỷ tinh đều không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

Đối với các vật chứng còn lại liên quan đến hành vi gây thương tích giữa bị cáo Ng với bị hại Tr đã được chuyển cho cơ quan Công an để xử lý theo thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ng phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Ng 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 (một) cục đá không rõ hình dạng, kích thước (36 x 19 x 12)cm; Các mảnh vỡ thủy tinh, màu đen, có các kích thước khác nhau; 01 (một) đám mảnh vỡ thủy tinh, màu đen, được dính lại với nhau.

(Vật chứng trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/8/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Huế).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn Ng phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ