- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Thanh T - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã (điều 234 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh T: 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 234 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƢỚC SƠN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày: 28/3/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƢỚC SƠN - TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Zơ Râm Quốc Sinh
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Lê Đình Hương
+ Bà Hồ Thị Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Phương – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 05/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST – HS, ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Thị Thanh T, sinh ngày: 18/3/1983; tại: Quảng Điền, Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố số 5, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê S (1957) và con bà Nguyễn Thị B (1955); Chồng Nguyễn Minh T1 (1977) và có 02 con sinh năm 2004 và 2006. Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 29/01/2024, bị Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi “Mua bán động vật rừng trái phép”, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
*Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Đức Đ; Nơi cư trú: Tổ dân phố số 5, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 00 phút, ngày 31/12/2024, Tổ công tác Công an huyện Phước Sơn tiến hành kiểm tra tại nhà Lê Thị Thanh T tại tổ dân phố số 5, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q thì phát hiện Lê Thị Thanh T đang tàng trữ 02 cá thể động vật rừng, đã chết, được làm sạch lông, có khối lượng là 1,5 kg và 1,9 kg. Quá trình làm việc, Lê Thị Thanh T không xuất trình được các hồ sơ pháp lý liên quan đến 02 cá thể động vật này và khai nhận: vào sáng ngày 31/12/2025, Thuỷ đang ở nhà thì có một người dân địa phương (không xác định được lai lịch) đem 02 cá thể động vật rừng đã chết, được làm sạch lông, có khối lượng là 1,5kg và 1,9 kg đến nhà để bán. Thuỷ mua 02 cá thể động vật rừng trên với giá 1.020.000 đồng nhằm mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời. Sau khi mua, T đem cất giấu trong tủ lạnh, đến chiều cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Phước Sơn kiểm tra, phát hiện và thu giữ.
Vật chứng thu giữ: 01 cá thể Cầy vòi mốc, đã chết, được làm sạch lông, có khối lượng 1,9 kg và 01 cá thể Cầy vòi hương, đã chết, được làm sạch lông, có khối lượng 1,5 kg.
Tại Kết luận giám định hình thái động vật số 89/STTNSV ngày 20/01/2025 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật - Viện Hàn lâm, khoa học và công nghệ Việt Nam xác định tên loài và tình trạng bảo tồn của 02 cá thể động vật thu giữ như sau: 01 cá thể là Cầy vòi mốc (có tên khoa học là Paguma Larvata) có khối lượng 1,9 kg và 01 cá thể là Cầy vòi hương (có tên khoa học là Paradoxurus harmaphroditus) có khối lượng là 1,5 kg. Cả hai đều thuộc Nhóm IIB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
Tại kết luận định giá số 01/KL-ĐG ngày 07/02/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Phước Sơn xác định: 01 cá thể Cầy vòi hương, khối lượng 1,5 kg có giá trị 2.400.000 đồng và 01 cá thể Cầy vòi mốc, có khối lượng 1,9 kg có giá trị là 3.040.000 đồng; tổng cộng giá trị của hai cá thể nêu trên là 5.440.000 đồng (năm triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSPS-HS, ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Lê Thị Thanh T về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 234 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Thanh T khai nhận: Sáng ngày 31/12/2024, có một người đàn ông không biết họ tên mang đến nhà 02 (hai) con Cầy đã chết, được làm sạch lông để bán thì bị cáo mua 02 (hai) con Cầy này với giá 1.020.000 đồng rồi cất vào tủ lạnh. Đến chiều cùng ngày thì bị Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam kiểm tra thu giữ. Ngoài ra, vào ngày 29/01/2024 bị cáo đã bị Công an huyện Phước Sơn xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi mua bán động vật rừng trái phép. Người mua 02 (hai) con Cầy và bị thu giữ vào ngày 31/12/2024 tại nhà bị cáo chính là bị cáo, mục đích mua 02 (hai) con Cầy để bán lại kiếm lời. Trong quá trình điều tra, truy tố không bị đánh đập, không bị ép cung; bị cáo không nhận tội thay cho ai, hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.
Luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, xét thấy: Ngày 31/12/2024, bị cáo Lê Thị Thanh T đã mua, tàng trữ 01 cá thể là Cầy vòi mốc và 01 cá thể là Cầy vòi hương đã chết đều là động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhằm mục đích bán lại kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam kiểm tra thu giữ. Ngày 29/01/2024 bị cáo đã bị Công an huyện Phước Sơn xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi “Mua bán lâm sản trái pháp luật (động vật rừng thông thường) có giá trị 4.200.000 đồng”. Đến ngày 31/12/2024, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính bị cáo tiếp tục có hành vi tàng trữ 02 (hai) cá thể Cầy là động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm để bán kiếm lời dù chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hình sự. Xét thấy, hành vi mua, tàng trữ 02 (hai) cá thể Cầy của bị cáo Lê Thị Thanh T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 234 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét nhân thân: Bị cáo Lê Thị Thanh T chưa có tiền án, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải nên được xem là tình tiết giảm nhẹ; không có tình tiết tăng nặng.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 234; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh T từ: 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Thị Thanh T không có thu nhập ổn định nên không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cá thể Cầy vòi mốc, đã chết, được làm sạch lông, có khối lượng 1,9 kg và 01 cá thể Cầy vòi hương, đã chết, được làm sạch lông, có khối lượng 1,5 kg. Ngày 19/12/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phước Sơn đã xử lý vật chứng đối với 02 cá thể động vật hoang dã nêu trên bằng hình thức tiêu huỷ nên không đề cập.
Đối với người đàn ông đã bán 02 (hai) cá thể Cầy cho Lê Thị Thanh T vào ngày 31/12/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện Phước Sơn không đủ cơ sở xác minh nên không đề cập.
Bị cáo Lê Thị Thanh T không tranh luận gì, nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, của điều tra viên; của Viện kiểm sát, của kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Thanh T không có ý kiến hoặc khiếu nại. Nên các hành vi và quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Lê Thị Thanh T nhận thức và biết rõ hành vi của mình là nếu mua, bán trái phép động vật hoang dã là vi phạm pháp luật và thấy trước được hậu quả hành vi của mình bị pháp luật cấm và sẽ xử lý theo pháp luật. Thế nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi trái phép, cụ thể: Ngày 31/12/2024, bị cáo Lê Thị Thanh T đã mua của một người đàn ông không rõ lý lịch 02 (hai) cá thể Cầy đã chết, được làm sạch lông thuộc Nhóm IIB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ với giá 1.020.000 đồng rồi cất giấu vào tủ lạnh nhằm mục đích bán lại thì bị Công an huyện Phước Sơn kiểm tra phát hiện và thu giữ.
Hành vi mua, tàng trữ trái phép 02 (hai) cá thể Cầy của bị cáo Lê Thị Thanh T chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vào ngày 29/01/2024 bị cáo đã bị Công an huyện Phước Sơn xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi “Mua bán lâm sản (động vật rừng) trái pháp luật” và đến ngày 31/12/2024, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi mua, tàng trữ trái phép 02 (hai) cá thể Cầy bị phát hiện và thu giữ.
Căn cứ bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo; luận tội của Viện kiểm sát và lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thị Thanh T tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ kết luận: Hành vi mua, tàng trữ trái phép 02 (hai) cá thể Cầy là động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bị thu giữ vào ngày 31/12/2024 của bị cáo Lê Thị Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 234 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về bảo vệ sự cân bằng sinh thái, đa dạng sinh học và bảo vệ các loài động vật hoang dã, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi để nhận thức hành vi mua, bán trái phép động vật hoang dã là vi phạm pháp luật và ngày 29/01/2024 đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Mua bán lâm sản (động vật rừng) trái pháp luật”. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội để cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải nên được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên không nhất thiết cách ly ra ngoài xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước. Nên, áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lê Thị Thanh T không có thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Những vấn đề liên quan trong vụ án: Đối với người đàn ông đã bán 02 (hai) cá thể Cầy cho Lê Thị Thanh T vào ngày 31/12/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện Phước Sơn không đủ cơ sở xác minh nên không đề cập.
Xử lý vật chứng: 01 cá thể Cầy vòi mốc, đã chết, được làm sạch lông, có khối lượng 1,9 kg và 01 cá thể Cầy vòi hương, đã chết, được làm sạch lông, có khối lượng 1,5 kg. Ngày 19/12/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phước Sơn đã xử lý vật chứng đối với 02 cá thể động vật hoang dã nêu trên bằng hình thức tiêu huỷ nên không đề cập.
Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 234; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã”.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh T: 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Tuyên giao bị cáo Lê Thị Thanh T cho Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện P, tỉnh Q nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Nếu, trường hợp bị cáo Lê Thị Thanh T đi khỏi nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (28/3/2025).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam; - VKSND huyện Phước Sơn; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - Công an tỉnh Quảng Nam; - Chi cục THADS huyện Phước Sơn; - UBND thị trấn Khâm Đức, huyện Phước Sơn; - Thành phần tham gia tố tụng; - Lưu: HSVA, VT, THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Zơ Râm Quốc Sinh |