- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/HS-PT Ngày 14-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Thẩm phán: Ông Bùi Duy Thạch
Bà Bùi Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 194/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXPT-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/HSPT-QĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 131/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn T; sinh ngày 28 tháng 12 năm 1990 tại Hải Phòng; nơi cư trú tổ G Thị trấn A, huyện A (nay là phường L, quận A), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Đào Thị L; vợ là chị Cao Thái H, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/7/2024; có mặt;
- Bị hại: Anh Nguyễn Báu Đ, sinh năm 1992; địa chỉ: Số I A, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, anh Nguyễn Báu Đ cùng Nguyễn Văn T, Phạm Duy L1, Nguyễn Hữu B, Đặng Đình C1 và anh Phạm Minh V, ăn liên hoan tại quán T2, số I đường H, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng. Đến khoảng 21 giờ 25 phút cùng ngày, giữa anh Đ và T xảy ra mâu thuẫn lời qua tiếng lại, lúc này T đang ngồi ở vị trí đối diện anh Đ, đứng dậy tay phải cầm 01 bát sứ màu trắng (bát ăn cơm loại nhỏ) của quán để trên bàn ăn, tiến đến vị trí anh Đ đang đứng tay trái tát vào vùng mặt bên phải anh Đ 01 cái làm anh Đ bị mất thăng bằng, chúi người về phía trước, hai tay chống vào bàn ăn. Ngay sau đó, tay phải T cầm bát sứ vung mạnh 01 cái vào vùng mặt bên trái của anh Đ theo chiều từ dưới lên trên, bát sứ bị vỡ thành nhiều mảnh. Mọi người can ngăn thì T rời khỏi quán, còn anh Đ bị thương tích chảy máu ở vùng mắt bên trái được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện V1. Đến sáng ngày 04/5/2024, anh Đ chuyển lên bệnh viện M điều trị.
Ngày 08/5/2024, Nguyễn Văn T đến trình diện tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Hải Phòng và khai nhận toàn bộ nội dung sự việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.
Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 352/2024/KLTTCT- TTPYHP ngày 10/05/2024 của Trung tâm P kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Báu Đ tại thời điểm giám định là 52,38%, làm tròn là 52%, (trong đó tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương rách da cung mày trái và mi trên mắt trái gây nên là 06%; do vết thương rách da mi dưới mắt trái và gò má trái gây nên là 03%; do sẹo 02 vết xây xước da vùng sống mũi gây nên là 03% và 03%; do sẹo vết xây xước da vùng nhân trung môi trên và vùng má phải gây nên là 03% và 03%; do chấn thương vỡ nhãn cầu mắt trái, hiện tại mất chức năng, thị lực sáng tối âm tính gây nên là 41%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật có góc cạnh cứng, có thể sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp theo hướng từ trước ra sau gây nên.
Ngày 14/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 1796/QĐ-CQCSĐT đối với những thương tích còn lại của anh Nguyễn Báu Đ liên quan đến vụ việc trên, nhưng anh Đ đã từ chối giám định vì lý do các thương tích đã được giám định đầy đủ, các vết xây xước khác là không đáng kể.
Tại Kết luận giám định số 2790/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của Phòng K công an thành phố H kết luận: “Các tập tin video lưu trữ trong thẻ nhớ cần giám định không có dấu hiệu bị cắt ghép, chỉnh sửa”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134 (điểm a khoản 1 Điều 134), điểm b, s, u, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “ Cố ý gây thương tích”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới là: Đơn xin xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ già yếu; bị cáo là lao động chính, con bị cáo còn nhỏ và Giấy khen về việc đã có thành tích trong đợt cao điểm thu hồi vũ khí vật liệu nổ - pháo - đèn trời do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn A (nay là UBND phường L, quận A) tặng ngày 13/11/2024 (bản sao).
Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc giải quyết kháng cáo như sau: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, đúng thủ tục nên đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T là hợp pháp, được chấp nhận. Nội dung kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới là: Đơn xin xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ già yếu; bị cáo là lao động chính, con bị cáo còn nhỏ và Giấy khen về việc đã có thành tích trong đợt cao điểm thu hồi vũ khí vật liệu nổ - pháo - đèn trời do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn A tặng ngày 13/11/2024 (bản sao), tuy nhiên tại giai đoạn sơ thẩm bị cáo đã được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 04 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T; sửa bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đề nghị giảm một năm tù đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đã đúng thủ tục, trong thời hạn luật định, đúng với quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên đơn kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Xét kháng cáo của bị cáo:
Về tội danh và điều luật áp dụng: Toà án sơ thẩm xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội danh “Cố ý gây thương tích” và điều luật áp dụng theo quy định quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (với tình tiết định khung "dùng hung khí nguy hiểm" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự) là hoàn toàn đúng quy định pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; quá trình công tác bị cáo được Chủ tịch Nước tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba, được Giám đốc Công an thành phố tặng Giấy khen có thành tích xuất sắc trong công tác, chiến đấu; Ngày 26/8/2024, Phòng K Công an thành phố H đã gửi Công văn số 779/ĐN-CSHS-Đ5 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H thông báo về việc: Nguyễn Văn T đã có thành tích lập công trong việc cung cấp thông tin quan trọng giúp Phòng K Công an thành phố H truy bắt thành công đối tượng có Quyết định truy nã Nguyễn Văn T1. Vì vậy bị cáo Nguyễn Văn T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, u, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và làm căn cứ để Toà án áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo Nguyễn Văn T mức án dưới khung hình phạt là hoàn toàn đúng quy đinh pháp luật.
Ngoài ra bị cáo Nguyễn Văn T có bố đẻ được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, nhì, ba và Huy chương vì an ninh tổ quốc; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, vì vậy cần buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe cải tạo bị cáo nhằm phòng chống tội phạm.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới là: Đơn xin xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ già yếu; bị cáo là lao động chính, con bị cáo còn nhỏ và cung cấp thêm Giấy khen về việc đã có thành tích trong đợt cao điểm thu hồi vũ khí vật liệu nổ - pháo - đèn trời do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn A (nay là UBND phường L, quận A) tặng ngày 13/11/2024 (bản sao). Đây là các chứng cứ mới là căn cứ thể hiện bị cáo luôn có ý thức đóng góp cho gia đình và tổ quốc, Kiểm sát viên căn cứ vào nguyên nhân phát sinh tội phạm, hoàn cảnh gia đình cũng như nhân thân của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và xem xét giảm cho bị cáo 01 năm tù.
Hội đồng xét xử nhận thấy quá trình xét hỏi và tranh tụng cũng như các chứng mới bị cáo Nguyễn Văn T cung cấp tại phiên toà phúc thẩm; xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, giảm cho bị cáo Nguyễn Văn T một năm tù theo quy định điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt là 02 năm tù.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T;
2. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134 (điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s, u, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Cố ý gây thương tích".
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
3. Về án phí hình sự: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND TP Hải Phòng; - VKSND quận Hồng Bàng; - PV06 Công an TP Hải Phòng; - Cơ quan THAHS quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - TAND quận Hồng Bàng; - Phòng KTNV và THA; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Giang |