vanban.org

Bản án 07/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thu H được ly hôn với ông Huỳnh Văn D.

Về con chung: Đã trưởng thành nên không đặt ra xét xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thu H - Huỳnh Văn D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thu H được ly hôn với ông Huỳnh Văn D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày 17 tháng 01 năm 2025
Về việc: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Công Minh

Ông Hà Trọng Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Như là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 615/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 350/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thu H, sinh năm 1976 (có mặt).

Địa chỉ: Số 00E, đường H, khóm 0, phường 0, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 00E, đường H, khóm 0, phường 0, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Phạm Thu H trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Văn D chung sống với nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường 0, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống, giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng ý kiến trong việc làm ăn, phát triển kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng thường cự cải nhau, ông D đã nhiều lần đánh đập bà, được chính quyền địa phương lập biên bản và hoà giải. Bà cảm thấy không còn tình cảm hạnh phúc gì với ông D. Nên ngày 17/11/2023 bà làm đơn khởi kiện đòi ly hôn đối với ông D, trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải ngày 20/12/2023 bà thấy được tầm quan trọng của hạnh phúc gia đình, tiếp tục cuộc sống vợ chồng cùng ông D, có đơn xin rút lại đơn khởi kiện ngày 17/11/2023. Ông D sau đó vẫn chứng nào tật ấy, thường xuyên vô cớ chửi bới đánh đập bà, cụ thể lần đánh đêm ngày 25/01/2024, nên ngày 30/01/2024 tôi tiếp tục làm đơn khởi kiện đòi ly hôn với ông D gửi Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải ngày 02/04/2024, tôi tiếp tục làm đơn xin rút đơn khởi kiện đòi ly hôn với ông D, để tạo cơ hội cho ông D sửa chữa những sai trái của mình, đồng thời kéo dài cuộc sống gia đình giữa tôi và ông D. Nhưng ông D vẫn không thay đổi tính nết từ đó cho đến nay, thường xuyên vô cớ chửi mắng tôi thậm tệ, có những lờid nói thô tục nhục mạ đủ điều, kể cả lúc có rượu và không có rượu, xét thấy nếu có kéo dài cuộc sống hôn nhân cũng chỉ làm khổ cho bản thân bà chứ không mang lại được hạnh phúc. Nay bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Văn D.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Huỳnh Quốc T, sinh ngày 08/4/1998 và Huỳnh N, sinh ngày 25/6/2004. Các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thoả thuận

- Về nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn ông Huỳnh Văn D đã được Toà án triệu tập hợp lệ để hoà giải, công khai chứng cứ và xét xử nhưng vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hôn nhân: Tại phiên toà, bà Phạm Thu H xác định bà và ông Huỳnh Văn D chung sống vợ chồng với nhau vào khoảng năm 1997, hôn nhân tự nguyện, đến năm 2004 đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND phường 6, thành phố Cà Mau. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông D được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ. Bà H xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, ông D nhiều lần có hành vi đánh đập và chửi bới, xúc phạm bà. Bà H xác định tình cảm vợ chồng của bà đối với ông D không còn, đời sống hôn nhân không thể duy trì, trường hợp tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cương quyết xin ly hôn với ông Huỳnh Văn D. Đối với ông Huỳnh Văn D, Tòa án đã thông báo cho ông D biết yêu cầu khởi kiện của bà H nhưng ông D không ý kiến gì và cũng không có văn bản gửi Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thu H được ly hôn với ông Huỳnh Văn D.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Huỳnh Quốc T, sinh ngày 08/4/1998 và Huỳnh N, sinh ngày 25/6/2004. Các con chung đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà H xác định tự thoả thuận nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thu H được ly hôn với ông Huỳnh Văn D.

2. Về con chung: Đã trưởng thành nên không đặt ra xét xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thu H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng. Ngày 15/11/2024 bà H đã nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai số 0009697 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ