- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cà Thị C - Cà Văn H"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25 – 8 - 2025 V/v xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thuý
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cầm Văn Tổ
2. Ông Nguyễn Đức Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 tham gia phiên toà: Bà Tường Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 162/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Cà Thị C, sinh ngày 23/8/1996. Số căn cước công dân: 01, ngày cấp: 27/6/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là bản A, xã B1, tỉnh Sơn La). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Cà Văn H, sinh ngày 15/02/1992. Số căn cước công dân: 00, ngày cấp: 27/6/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là bản A, xã B1, tỉnh Sơn La). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 5 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Cà Thị C trình bày như sau:
Chị và anh Cà Văn H kết hôn với nhau từ năm 2018 do cả hai cùng tự nguyện. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là xã B1, tỉnh Sơn La) theo quy định và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/3/2014. Anh chị đã được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là anh H không tu chí làm ăn, không chăm lo cho gia đình. Chị C đã nhờ bố mẹ hai bên khuyên bảo anh H nhưng không được. Chị C và anh H đã sống ly thân từ khoảng đầu năm 2025 đến nay. Nay chị C xác định tình cảm vợ chồng với anh H đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cà Văn H.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Cà Thị Phương L, sinh ngày 04/10/2014 và cháu Cà Du P, sinh ngày 02/3/2016. Từ khi sống ly thân các cháu khi thì sống cùng chị C, khi thì sống cùng anh H. Chị C có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai cháu L, P cho đến khi các cháu trưởng thành và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Chị C có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị tại phiên tòa.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã đến địa phương nơi cư trú của anh H để thực hiện tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng và ghi nhận ý kiến của anh H về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, do anh H thường xuyên không có mặt tại địa phương nơi cư trú nên Tòa án đã niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả công khai tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa tuy nhiên anh H vẫn không có mặt để giải quyết vụ án.
Tại biên bản ghi ý kiến anh Cà Văn H qua số điện thoại do ông Cà Văn N (bố đẻ anh H) và ông Tòng Văn Q (trưởng bản A): Anh H không trình bày nội dung nào liên quan đến các vấn đề tranh chấp có trong vụ án (tình cảm, con chung, tài sản, nợ chung vợ chồng); anh H xác nhận sẽ không tham gia bất cứ buổi làm việc nào tại Toà án.
Tòa án đã tiến hành xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung vợ chồng của chị C và anh H với ông Cà Văn N (bố đẻ anh H) và ông Tòng Văn Q (trưởng bản A). Ông N và ông Q đều xác nhận chị Cà Thị C và anh Cà Văn H tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La theo đúng quy định của pháp luật. Về mâu thuẫn của chị C và anh H thì ông N và ông Q đều không nắm rõ; hiện chị C đã chuyển ra quán mà chị C thuê ở cùng bản để sinh sống.
Tại biên bản ghi ý kiến ngày 20/6/2025 đối với cháu Cà Thị Phương L và cháu Cà Du P: cháu L và cháu P xác nhận xin được ở cùng mẹ trong trường hợp bố mẹ ly hôn.
Do anh H không có ý kiến và các đương sự chưa thống nhất được toàn bộ việc giải quyết vụ án nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định.
Sau khi chủ toạ công bố đơn xin xét xử vắng mặt của chị Cà Thị C, lý do vắng mặt của anh Cà Văn H và công bố tóm tắt nội dung vụ án, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 147, 266, 271, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử theo hướng:
+ Về hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị C được ly hôn với anh Cà Văn H.
+ Về con chung: Giao cháu Cà Thị Phương L, sinh ngày 04/10/2014 và cháu Cà Du P, sinh ngày 02/3/2016 cho chị Cà Thị C trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu L, P trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động). Ghi nhận việc chị C không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
+ Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Chấp nhận việc chị Cà Thị C không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung vợ chồng.
+ Về án phí: Chị Cà Thị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
Xét yêu cầu khởi kiện được xác định trong đơn khởi kiện và lời khai của chị Cà Thị C về việc xin ly hôn với anh Cà Văn H. Chị C đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ hôn nhân. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân khu vực 4 thụ lý vụ án hôn nhân gia đình và xác định quan hệ tranh chấp là xin ly hôn là đúng quy định của pháp luật.
Trước khi mở phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với các đương sự trong vụ án. Tuy nhiên, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu xin ly hôn:
Về hôn nhân: Chị Cà Thị C và anh Cà Văn H tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2014, anh chị đã được UBND xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là xã B1, tỉnh Sơn La) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/3/2014. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó anh chị là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Chị C cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do hai anh chị có nhiều bất đồng trong quan điểm, lối sống, anh H không tu chí làm ăn, không chăm lo cho gia đình. Chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai anh chị không thể tiếp tục chung sống nên có nguyện vọng xin ly hôn với anh Cà Văn H. Quá trình xác minh tình trạng hôn nhân tại gia đình anh H và tại địa phương nơi anh H sinh sống cũng thể hiện vợ chồng anh chị đã có mâu thuẫn với nhau, anh H và chị C hiện đã sống ly thân. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh H mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho ly hôn giữa chị Cà Thị C và anh Cà Văn H.
Về con chung: Chị C và anh H có 02 con chung là cháu Cà Thị Phương L, sinh ngày 04/10/2014 và cháu Cà Du P, sinh ngày 02/3/2016. Từ khi chị C và anh H sống ly thân, cháu L và cháu P vẫn qua lại sinh sống ở 2 nơi cùng chị C hoặc cùng anh H. Chị C có nguyện vọng được nhận trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con là cháu L và cháu P cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị C có nơi ở là 01 ngôi nhà đồng thời là quán bán hàng, nơi cư trú rõ ràng; các cháu L, P đều đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng ở cùng chị C và anh H không có ý kiến đối với việc giải quyết vụ án liên quan đến phần con chung. Vì vậy, để đảm bảo về quyền lợi mọi mặt cho các cháu L, P cần chấp nhận nguyện vọng của chị C, giao các cháu Cà Thị Phương L, sinh ngày 04/10/2014 và cháu Cà Du P, sinh ngày 02/3/2016 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu L, P trưởng thành đủ 18 tuổi, có khả năng lao động. Chấp nhận việc chị C không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Chị C không đề nghị Toà án giải quyết. Anh H không có ý kiến, yêu cầu cụ thể. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Chị Cà Thị C không thuộc các trường hợp được miễn, giảm án phí nên căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 147, 266, 271, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cà Thị C và anh Cà Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Cà Thị Phương L, sinh ngày 04/10/2014 và cháu Cà Du P, sinh ngày 02/3/2016 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu L, P trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Ghi nhận việc chị C không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Anh H, chị C có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình.
Sau khi ly hôn, anh H được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật; không ai được quyền ngăn cản anh thực hiện quyền này theo quy định của Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Chấp nhận việc chị C không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung vợ chồng và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.
4. Về án phí: Chị Cà Thị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu Tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002822 ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Sơn La).
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND KV4, tỉnh Sơn La; - THADS tỉnh Sơn La; - UBND xã B1, tỉnh Sơn La; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ, án văn. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Phương Thúy |