- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Hồng P.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ________________________ Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28/7/2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Liên và ông Lương Tấn Nghị
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Lan – Thư ký TAND khu vực 13 – Đắk Lắk.
Đại diện VKSND khu vực 13 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Tạ Ngọc Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 289/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Lê Thị Hồng P, sinh năm 2003;
Địa chỉ: Tổ dân phố 7, xã H, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Lương Anh V, sinh năm 1978; Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn P, phường P, tỉnh Đắk Lắk.
Người làm chứng:
+ Lê Thị H, sinh năm 1997;
+Phạm Thị Tr, sinh năm 1977;
Đồng địa chỉ: Tổ dân phố 7, xã H, tỉnh Ninh Bình.
(Đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Lê Thị Hồng P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng P và ông Lương Anh V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Th, huyện H, tỉnh Nam Định vào ngày 23/12/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc và sinh được 01 con chung thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mặc dù hai bên gia đình đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng hai vợ chồng không hòa hợp được. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống, không cùng chí hướng xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên bà P yêu cầu được ly hôn với ông V.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lương Quang D, sinh ngày 26/4/2022. Lâu nay, con chung do bà P trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn bà P yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Lương Quang D. Hiện nay, bà P là công nhân may, thu nhập bình quân mỗi tháng 10.000.000đ đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Bà P không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn ông Lương Anh V vắng mặt tại nơi cư trú từ đầu năm 2022 đến nay. Từ tháng 2/2025, Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên đã tiến hành thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Lương Anh V theo quy định của pháp luật, đến nay vẫn không có tin tức gì. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk không lấy được lời khai của ông Lương Anh V và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, vì mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Giao 01 con chung tên Lương Quang D, sinh ngày 26/4/2022 cho nguyên đơn bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các đương sự tranh chấp về ly hôn, là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thời điểm thụ lý cho đến ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử bị đơn có nơi cư trú tại: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk.
[1.2] Nguyên đơn, người làm chứng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lương Anh V vắng mặt tại nơi cư trú từ đầu năm 2022. Ngày 17/01/2025, Toà án nhân dân huyện Tây Hòa đã ra Quyết định số 01/2025/QĐST-VDS chấp nhận yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và ra Thông báo số 01/2025/QĐ-TA ngày 17/02/2025 tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Lương Anh V nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì về ông V nên tòa án xét xử vắng mặt ông V theo quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTDS.
[2] Xét yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Lê Thị Hồng P và bị đơn Lương Anh V tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Th, huyện H, tỉnh Nam Định vào ngày 23/12/2022 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, đúng như xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn Thịnh Long tại đơn xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 16/6/2025.
Ý kiến bà Phạm Thị Tr là mẹ ruột của bị đơn và bà Lê Thị H là chị ruột của bị đơn cho biết hai vợ chồng bà P và ông V đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Như vậy, đủ cơ sở xác định, mâu thuẫn giữa bà P và ông V đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Hồng Phượng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[2.2] Về con chung: Có 01 con chung tên Lương Quang D, sinh ngày 26/4/2022, hiện do nguyên đơn đang trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu D lâu nay do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, cháu D còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Để tạo điều kiện cho cháu D phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cháu D cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét.
[2.4] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn Lê Thị Hồng P phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 BLTTDS;
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Hồng P.
1. Về hôn nhân: Nguyên đơn Lê Thị Hồng P được ly hôn với bị đơn Lương Anh V.
2. Về con chung: Giao 01 con chung Lương Quang D, sinh ngày 26/4/2022 cho nguyên đơn Lê Thị Hồng P trực tiếp nuôi dưỡng.
Bị đơn Lương Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Nguyên đơn Lê Thị Hồng P phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001099 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Phòng THADS khu vực 13 – Đắk Lắk; - VKSND khu vực 13 – Đắk Lắk ; - UBND xã Hải Thịnh, tỉnh Ninh Bình; CNKH số 99/2022); - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Kim Thúy |