vanban.org

Bản án 07/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim B được ly hôn với ông Trần Tấn L.

Về con chung: Bà Phạm Thị Kim B được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Trần Thị Ngọc N, sinh ngày 09/01/2014. Đối với con chung tên Trần Thị Ngọc T hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên không giải quyết. Ông Trần Tấn L không phải cấp dưỡng cho con chung. Ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim B được ly hôn với ông Trần Tấn L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 7 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Hiển.

Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 714/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 470/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 512/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim B, sinh năm 1985 (căn cước công dân xxxxxxxxxxxx); cư trú tại: Số 694, ấp C, xã T, tỉnh An Giang. Vắng mặt

- Bị đơn: Ông Trần Tấn L, sinh năm 1985 (chứng minh nhân dân xxxxxxxxx); cư trú tại: Số 298, tổ 11, ấp M, xã T, tỉnh An Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 22/10/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Kim B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà B và ông L do mai mối và được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới nên tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2005 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 09/8/2006. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông L không lo làm ăn, thường xuyên ăn chơi, cờ bạc, gây nợ nhiều lần, vợ chồng từ đó thường xảy ra tranh cãi. Cha mẹ hai bên khuyên ngăn và ông L nhiều lần xin bà tha thứ, vì thương con nên bà cho ông L cơ hội nhưng ông L vẫn không thay đổi. Sự việc như trên diễn ra nhiều lần, hiện nay bà cảm thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng bất đồng quan điểm nên đã sống ly thân từ tháng 6/2024. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà B yêu cầu ly hôn với ông L.

- Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Trần Thị Ngọc T, sinh ngày 25/9/2006 và Trần Thị Ngọc N, sinh ngày 09/01/2014. Hiện con chung tên Trần Thị Ngọc N đang sống với bà B, khi ly hôn bà B yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu ông L cấp dưỡng cho con. Đối với con chung tên Trần Thị Ngọc T hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác nhưng bị đơn ông Trần Tấn L vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B, cho bà B ly hôn với ông L.

- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung tên Trần Thị Ngọc N cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con chung tên Trần Thị Ngọc T hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên không đề nghị xem xét.

- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.

- Về án phí dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại xã T, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang thụ lý giải quyết là đúng với quy định pháp luật.

[1.2] Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà B và ông L xác lập hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T theo giấy chứng nhận kết hôn số 167/2006 ngày 09/8/2006. Do đó, hôn nhân của ông bà là hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 9 và Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và phải có nghĩa vụ chung sống với nhau. Tuy nhiên, bà B và ông L đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; cả hai đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2024 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để ông bà đoàn tụ nhưng bà B cương quyết ly hôn; ông L nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và biết việc bà B khởi kiện ly hôn nhưng ông vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến. Qua đó, cho thấy ông L không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, hôn nhân của ông bà đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân dân tối cao, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B.

Về con chung: Hiện con chung tên Trần Thị Ngọc N đang sống với bà B và bà B có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Ông L không có ý kiến về yêu cầu nuôi con của bà B. Con chung tên Trần Thị Ngọc N có nguyện vọng được sống với bà B khi cha mẹ ly hôn. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay con chung Trần Thị Ngọc N do bà B trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định về tâm lý, về môi trường sống, điều kiện học tập, nơi ở và đảm bảo sự phát triển B thường của con chung cũng như tôn trọng nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Trần Thị Ngọc N cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con chung tên Trần Thị Ngọc T hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.

Về cấp dưỡng: Ông L không phải cấp dưỡng cho con chung do bà B không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí dân sự: Bà B phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Ông L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9; Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim B được ly hôn với ông Trần Tấn L.

- Về con chung: Bà Phạm Thị Kim B được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Trần Thị Ngọc N, sinh ngày 09/01/2014. Đối với con chung tên Trần Thị Ngọc T hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên không giải quyết. Ông Trần Tấn L không phải cấp dưỡng cho con chung.

+ Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

+ Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

- Về án phí dân sự: Bà Phạm Thị Kim B phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009024 ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 - An Giang).

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ