- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với ông Nguyễn Đức D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07-7-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Kim Thoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan
Ông Trần Văn Chánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 600/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 310/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1987.
Hộ khẩu thường trú: B, tổ C, khu phố S, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (nay là phường N, tỉnh Đồng Nai).
Địa chỉ liên hệ: Số S V, tổ B, khu phố B, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức D, sinh năm 1977.
Địa chỉ: B, tổ C, khu phố S, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (nay là phường N, tỉnh Đồng Nai).
(Bà T và ông D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và tại phiên hòa giải, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Đức D đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường Tân Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường N, tỉnh Đồng Nai) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 14, quyển số 01/2011 ngày 14/01/2011.
Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc nhưng về sau ông D không lo làm ăn, không chăm lo cho cuộc sống gia đình nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến không khí trong gia đình luôn căng thẳng. ông D không có việc làm ổn định nên bà là trụ cột về kinh tế trong gia đình. Khi xảy ra mâu thuẫn, bản thân bà cũng muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng để gia đình không đỗ vỡ nhưng mong muốn hàn gắn chỉ đến từ một phía nên không có kết quả. Hiện nay bà và hai con chung đã về nhà cha mẹ đẻ của bà sinh sống, làm việc và học tập. Mỗi người có một cuộc sống riêng, vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau.
Nay bà xác định không còn tình cảm với ông D, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Đức D.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Vũ Nhật H, sinh ngày 04/7/2011 và Nguyễn Duy T, sinh ngày 19/12/2013. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con, vì hiện tại hai con chung đang sống cùng với bà, được đi học đầy đủ và phát triển bình thường.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì bận công việc nên bà xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Đức D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không chấp hành theo đúng quy định.
- Về quan điểm giải quyết vụ án như sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Đức D.
+ Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Vũ Nhật H, sinh ngày 04/7/2011 và Nguyễn Duy T, sinh ngày 19/12/2013 cho Bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
+ Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Đức D có nơi cư trú tại địa chỉ: B, tổ C, khu phố S, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (nay là phường N, tỉnh Đồng Nai), nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng bị đơn ông Nguyễn Đức D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Đức D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường Tân Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường N, tỉnh Đồng Nai) cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/01/2011, nên quan hệ hôn nhân giữa Bà T và ông D là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, bà T kiên quyết yêu cầu được ly hôn với ông D với lý do hiện nay không còn tình cảm với ông D; trong thời gian chung sống, vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau; cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay vợ chồng bà đã ly thân được mấy tháng. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông D để làm việc, hòa giải nhưng ông D vắng mặt không có lý do, thể hiện việc ông D đã bỏ mặc, không mong muốn hòa giải để hàn gắn, níu kéo tình cảm, quan hệ hôn nhân với bà T. Từ những căn cứ trên, xét hôn nhân giữa bà T và ông D lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông D là có cơ sở. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T, cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn Đức D.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Vũ Nhật H, sinh ngày 04/7/2011 và Nguyễn Duy T, sinh ngày 19/12/2013. Bà T xin được nuôi con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con, vì từ ngày vợ chồng ly thân, bà T là người trực tiếp nuôi con chung.
Xét thấy, cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Hiện nay, cháu H và cháu T đang sống cùng với mẹ và cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Cả hai cháu đều được đi học ổn định và được mẹ chăm sóc, phát triển bình thường. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu H và cháu T cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên là phù hợp theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông D do bà T không yêu cầu.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về nợ chung: Đương sự xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 220, 228, 235, 238, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ vào các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với ông Nguyễn Đức D.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Đức D.
- Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Vũ Nhật H, sinh ngày 04/7/2011 và Nguyễn Duy T, sinh ngày 19/12/2013 cho bà Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm thời ông Nguyễn Đức D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006038 ngày 06/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Đồng Nai). Bà Nguyễn Thị Thanh T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: THẨM - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND khu vực 1 - Đồng Nai; - Phòng THADS khu vực 1 - Đồng Nai; - UBND phường Hố Nai, tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đồng Thị Kim Thoa |