vanban.org

Bản án 07/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị N được ly hôn với anh Mang T1. Về con chung: Giao cho chị Thị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung là Mang Mai Chi T2, sinh ngày 11/7/2018 và M1, sinh ngày: 09/01/2022. Anh Mang T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thị Nước xin ly hôn Mang Thiệu"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN BẮC
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17/04/2025
V/v: “Ly hôn và tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lăng và bà Mai Thị Hồng Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Hòa Yên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 04 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 94/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/03/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/03/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thị N, sinh năm: 2001. (có mặt)

Địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đàng Tấn T – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. (có mặt)

- Bị đơn: Anh Mang T1, sinh năm: 1996. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Thị N trình bày:

Chị và anh Mang T1 tiến đến hôn nhân là tự nguyện, tổ chức cưới theo phong tục tập quán của người Raglay năm 2018 nhưng đến ngày 01/3/2022 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B. Quá trình chung sống hai vợ chồng có với nhau 02 người con chung là Mang Mai Chi T2, sinh ngày 11/7/2018 và M1, sinh ngày: 09/01/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì anh T1 bắt đầu thể hiện tật xấu, không lo tu chí làm ăn, không quan tâm, chăm sóc vợ con, gây nợ nần để chị phải trả, anh T1 còn hay ghen tuông, kiếm cớ gây chuyện chửi bới chị dẫn đến thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã nhau nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ cuối năm 2023 anh T1 đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng không còn sống chung mà mạnh ai người đó sống, không quan tâm, chăm sóc hay thăm hỏi gì đến nhau nữa. Do cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh T1 không còn tồn tại, không thể hàng gắn nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn anh Mang T1.

- Về con chung: Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung vì 02 cháu sống với chị từ nhỏ đến nay và chị không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung vì hiện tại chị làm công nhân, thu nhập ổn định mỗi tháng 7.000.000đ đủ khả năng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị xin được miễn án phí sơ thẩm.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/02/2025, bị đơn anh Mang T1 trình bày:

Anh và chị N chung sống với nhau từ năm 2018 nhưng đến năm 2022 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều lần cãi vã nhau nhưng không đến mức nghiêm trọng, khoảng cuối năm 2023, có một lần anh đi làm ở S không có xe về nên đã gọi điện thoại cho chị N nhiều lần nhưng không liên lạc được, khi về nhà do bực tức anh đã đập điện thoại của chị N dẫn đến vợ chồng cãi vã nhau, anh bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, từ đó đến nay vợ chồng không còn liên lạc, không quan tâm, chăm sóc gì đến nhau nữa. Nay chị N khởi kiện xin ly hôn thì anh đồng ý nhưng anh không đến Tòa án để giải quyết vì gia đình chị N chưa đến gia đình anh nói chuyện và thực hiện các nghi thức theo phong tục người Raglay. Trường hợp ly hôn thì anh đồng ý giao 02 người con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, ngoài ra anh không ý kiến gì thêm.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh Mang T1 và chị Thị N đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn tồn tại nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Về con chung đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 người con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng vì các cháu sống với mẹ từ nhỏ cho đến nay. Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí ly hôn cho nguyên đơn vì là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về thủ tục tố tụng:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, còn bị đơn không chấp hành mặc dù Tòa án đã thông báo và tống đạt hợp lệ nhiều lần. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Mang T1 và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã B, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.

Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Thị N và anh Mang T1 xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Ninh Thuận nên là hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy: Cả anh T1 – chị N đều thừa nhận sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc và có với nhau hai người con chung nhưng thời gian sau này thì thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã nhau dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ cuối năm 2023 đến nay anh T1 đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng không còn sống chung mà mạnh ai người đó sống, không quan tâm, chăm sóc hay thăm hỏi gì đến nhau nữa là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng anh T1 – chị N đã không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên việc chị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T1 là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống anh T1 – chị N có với nhau hai người con chung, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung và anh T1 cũng đồng ý giao hai người con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cho chị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị N không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Do chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa là phù hợp với những nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tại phiên tòa là phù hợp với những nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Xét đơn xin miễn án phí của chị N thuộc trường hợp là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho chị N.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điêu 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị N được ly hôn với anh Mang T1.

2. Về con chung: Giao cho chị Thị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung là Mang Mai Chi T2, sinh ngày 11/7/2018 và M1, sinh ngày: 09/01/2022. Anh Mang T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Thị N.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ