vanban.org

Bản án 07/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vương Thị T, cho chị Vương Thị T được ly hôn với anh Nông Thanh T1.

Về con chung: Giao con chung Nông Lăng Nhật L – Sinh ngày 26/8/2024 cho chị Vương Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vương Thị T1 - Nông Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vương Thị T, cho chị Vương Thị T được ly hôn với anh Nông Thanh T1.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG HOÀ
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 4 năm 2025.
"Về việc: Ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HOÀ - CAO BẰNG

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy.

- Các Hội thẩm nhân dân gồm: Ông Đàm Văn Chung và bà Phan Thị Oanh.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lục Thu Hồng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thắm - Chức vụ: Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 83/2024/TLST – HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn Vương Thị T - sinh năm 1995

Địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có đơn để nghị giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn Nông Thanh T1 - Sinh năm 1994

Địa chỉ: Xóm N, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Hiện đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam khu vực Q thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có đơn để nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 13/12/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Vương Thị T trình bày:

Tôi kết hôn với anh Nông Thanh T1 ngày 20/07/2017, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P (nay là xã C, huyện Q), tỉnh Cao Bằng.

Về quá trình chung sống: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc cho đến giữa năm 2023 bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, mất niềm tin ở nhau, không còn quan tâm chia sẻ với nhau. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra thường xuyên, đã cố gắng tự hòa giải để hàn gắn nhưng không được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2023 đến nay. Tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Nông Thanh T1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nông Lăng Nhật L – Sinh ngày 26/8/2024, hiện nay con đang ở với tôi. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Do anh T1 đang bị tạm giam nên tôi không cần sự cấp dưỡng từ bên chồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Nông Thanh T1 có lời khai như sau:

Tôi kết hôn với chị Vương Thị T ngày 20/07/2017, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã C), huyện Q, tỉnh Cao Bằng.

Quá trình chung sống: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc cho đến giữa năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn quan tâm, chia sẻ với nhau và đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Tôi xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T xin ly hôn, tôi cũng nhất trí.

Về con chung: Có 01 con chung là Nông Lăng Nhật L – Sinh ngày 26/8/2024, hiện nay con đang ở với chị T. Nay tôi đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện Q nên không có điều kiện nuôi con. Khi ly hôn chị T là người trực tiếp nuôi con, tôi không đóng góp nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng thủ tục tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 84, 115, 116 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Vương Thị T được ly hôn với anh Nông Thanh T1. Về con chung: Giao cháu Nông Lăng Nhật L – Sinh ngày 26/8/2024 cho chị Vương Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc đến tuổi trưởng thành; Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không có yêu cầu.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ Điều 26; điểm a khoản 5, 6 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Vương Thị T và anh Nông Thanh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P (nay là UBND xã C, huyện Q), tỉnh Cao Bằng là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn cả chị T và anh T1 cùng thống nhất khai do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn quan tâm, chia sẻ với nhau và đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Cả chị T và anh T1 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T xin ly hôn, anh T1 cũng nhất trí. Do anh T1 có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, chị T cũng có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Vương Thị T, cho chị T được ly hôn với anh Nông Thanh T1.

[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị Vương Thị T và anh Nông Thanh T1 có 01 con chung là Nông Lăng Nhật L – Sinh ngày 26/8/2024. Khi ly hôn, cả chị T và anh T1 đều thống nhất ý kiến chị T là người trực tiếp nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T tự nguyện không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên xác nhận không có.

[5] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Chị Vương Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 147; Điều 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 116 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vương Thị T, cho chị Vương Thị T được ly hôn với anh Nông Thanh T1.

2. Về con chung: Giao con chung Nông Lăng Nhật L – Sinh ngày 26/8/2024 cho chị Vương Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nông Thanh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi xét thấy cần thiết, các bên có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức và phương thức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí: Chị Vương Thị T phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số 0002424 ngày 13/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa, Cao Bằng.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ