vanban.org

Bản án 07/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị H.

Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Ông, bà tự thỏa thuận phân chia, thanh toán không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Ông Hoàng Văn L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hoàng Văn L và Đinh Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14-01-2025.
V/v: Tuyên bố không công nhận
quan hệ vợ chồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lý Thị Dung.

2. Bà Đinh Thị Minh Thuý.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2024//TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Bản M, xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La - Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Đinh Thị H, sinh năm 1963.

Nơi đăng ký HKTT: Bản M, xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Địa chỉ: Bản Chiềng Trung, xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La– Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 22/5/2024 và lời khai tại phiên tòa nguyên đơn ông Hoàng Văn L trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị H về sống chung với nhau tháng 12 năm 1989 trên có sở tự nguyện, không có đăng ký kết hôn tại Cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định mà chỉ tổ chức lễ cưới, hỏi tại hai bên gia đình. Quá trình chung sống hoà thuận, hạnh phúc được một thời gian đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông bà bất đồng quan điểm sống từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn trong gia đình. Đến tháng 4 năm 2024 thì ông bà sống ly thân, bà Đinh Thị H đi sống cùng con gái bản Chiềng Trung, xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Mâu thuẫn của ông bà đã được gia đình hai bên, chính quyền địa phương hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Hai ông, bà đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn ông Hoàng Văn L làm đơn yêu cầu Toà án không công nhận quan hệ vợ chồng với bà Đinh Thị H.

Về con chung: Ông bà có 03 con chung là chị Hoàng Thị Hậu, sinh ngày 17/10/1990, chị Hoàng Thị Giang, sinh ngày 03/10/1992, anh Hoàng Ngọc Thành, sinh ngày 09/11/1996. Hiện nay các con đã thành niên (đủ 18 tuổi), có khả năng lao động ông Hoàng Văn L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông, bà tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Ông, bà tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Ông Hoàng Văn L xin chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 06/12/2024 và tại phiên toà ngày hôm nay bà Đinh Thị Hoàng trình bày:

Về quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng bà hoàn toàn nhất trí như ý kiến của ông Hoàng Văn L trình bày. Ông và bà về sống chung với nhau từ tháng 12/1989 trên cơ sở tự nguyện, không có đăng ký kết hôn theo quy định, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Quá trình sống chung hạnh phúc được một thời gian ngắn thì đến năm 1990 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Hoàng Văn L ghen tuông, không tin tưởng bà, ông Hoàng Văn L thường xuyên uống rượu không tu trí làm ăn, bà góp ý thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã. Hiện nay ông và bà đã sống ly thân từ tháng 4/2024 cho đến nay. Mâu thuẫn đã được gia đình và chính quyền địa phương hoà giải nhiều lần nhưng không đạt được kết quả. Nay ông Hoàng Văn L có đơn yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng thì ý kiến của bà là yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: có 03 con chung là chị Hoàng Thị Hậu, sinh ngày 17/9/1990, chị Hoàng Thị Giang, sinh ngày 03/10/1992, anh Hoàng Ngọc Thành, sinh ngày 29/9/1996 hiện nay hai con gái đã đi lấy chồng, có gia đình riêng, còn mỗi Hoàng Ngọc Thành chưa xây dựng gia đình. Hiện nay các con đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông, bà tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tài sản riêng: Không yêu cầu Toà án giải quyết, để lại cho các con.

Về nợ chung: Không có.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên như sau:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, nghị án Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Đối với bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Căn cứ khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Đề nghị tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị H.

- Về con chung: Có 03 con đều đã đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Ông, bà tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Ông Hoàng Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Ông Hoàng Văn L có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với bà Đinh Thị Hàng. Bà Đinh Thị H có địa chỉ cư trú tại bản M, xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị Hoàng sống chung với nhau từ tháng 12 năm 1989, việc sống chung là hoàn toàn tự nguyện, được tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, tại thời điểm sống chung hai bên đã đủ tuổi đăng ký nhưng cho đến nay không đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định nên không được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014 “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phat sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng ”. Hơn nữa cho đến nay ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị H không có thiện chí hàn gắn tình cảm để chung sống với nhau. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình cần xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị H.

Về con chung: ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị H có 03 con chung là chị Hoàng Thị Hậu, sinh ngày 17/9/1990, chị Hoàng Thị Giang, sinh ngày 03/10/1992, anh Hoàng Ngọc Thành, sinh ngày 29/9/1996. Hiện nay các con đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông, bà tự thỏa thuận, phân chia, thanh toán không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tài sản riêng: Không có.

Về án phí: Ông Hoàng Văn L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị H.

2. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Ông, bà tự thỏa thuận phân chia, thanh toán không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về án phí: Ông Hoàng Văn L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La theo biên lai thu tiền số: BLTU/23/0000593 ngày 04 tháng 12 năm 2024.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 14/01/2025).

Cỡ chữ