vanban.org

Bản án 07/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Xử ly hôn giữa chị Phạm Thùy Hải P và anh Lê Quốc Đ.

2 - Án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thùy Hải P phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị chị P đã nộp theo biên lai số 0001463 ngày 01/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị P đề nghị ly hôn anh Đ"
  • Tòa quyết gì? 1 - Xử ly hôn giữa chị Phạm Thùy Hải P và anh Lê Quốc Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA HƯNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 06 - 01 - 2025.
V/v ly hôn giữa chị P và anh Đ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Chủng.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Vui.

2. Ông Vũ Mạnh Toàn.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Gấm – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 122/2024/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2024/QĐST - HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Phạm Thùy Hải P, sinh năm 1999; Địa chỉ: Số A B, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bị đơn: Anh Lê Quốc Đ, sinh năm 1998; Địa chỉ: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa vắng mặt chị P, anh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên toà hôm nay chị Phạm Thùy Hải P vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn khởi kiện và lời khai của chị Phạm Thùy Hải P trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Chị kết hôn với anh Lê Quốc Đ vào tháng 3/2023 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến tháng 01/2024 thì vợ chồng chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh Đ không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Quốc Đ.

Về con chung: Giữa chị và anh Đ không có con chung.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay anh Lê Quốc Đ vắng mặt. Lời khai của ông Lê Thanh N (là bố đẻ của anh Lê Quốc Đ) tại các buổi làm việc với Tòa án trình bày đúng như lời khai của chị Phạm Thùy Hải P về quá trình kết hôn chung sống giữa chị P và anh Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng chị P anh Đ chung sống hoà thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng về quan điểm không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến tháng 01/2024 thì vợ chồng chị P anh Đ sống ly thân từ đó cho đến nay. Do anh Đ không có mặt để nhận trực tiếp những văn bản tố tụng của của Tòa án nên ông đã nhận thay và đã thông báo cho anh Đ đầy đủ. Mặt khác do anh Đ phải đi làm không thể đến tòa án để làm việc được anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh và anh có nhờ gia đình chuyển quan điểm của anh về việc giải quyết vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thùy Hải P xin ly hôn anh thì tùy chị P.

Về con chung giữa: Giữa anh và chị P không có con chung.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q: Xử ly hôn giữa chị Phạm Thùy Hải P và anh Lê Quốc Đ; Về án phí dân sự sơ thẩm: chị P phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Lê Quốc Đ cư trú tại xã N huyện N tỉnh Nam Định. Nay chị Phạm Thùy Hải P xin ly hôn anh Lê Quốc Đ thì Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Thùy Hải P vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị P là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay anh Lê Quốc Đ vắng mặt nhưng anh Đ nhưng anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ là phù hợp với khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thùy H P và anh Lê Quốc Đ vào tháng 3 năm 2023 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chống bất đồng về quan điểm không hiểu nhau. Đến tháng 01/2024 thì vợ chồng chị P anh Đ sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn. Phía anh Đ có quan điểm chị P muốn ly hôn thì tùy chị P. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị xử ly hôn giữa chị P và anh Đ.

Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh Đ đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị P xin ly hôn anh Đ nên chấp nhận là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Phạm Thùy Hải P và anh Lê Quốc Đ đều thống nhất xác định vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung vợ chồng: Chị Phạm Thùy Hải P và anh Lê Quốc Đ đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thùy Hải P phải nộp theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1 - Xử ly hôn giữa chị Phạm Thùy Hải P và anh Lê Quốc Đ.

2 - Án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thùy Hải P phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị chị P đã nộp theo biên lai số 0001463 ngày 01/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ