- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lường Thị L/Lò Văn T - ly hôn tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày 20 tháng 01 năm 2025 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Quốc Cường
2. Bà Mai Thị Trường
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Trí Giáp – Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2024/TLST-HN&GĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 05/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị L, sinh năm 1990.
Nơi cư trú: Bản LC, xã NL, huyện MA, tỉnh Điện Biên . (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Lường Thị L: Bà Hà Thị Thuận - Trợ giúp viên pháp lý. Nơi công tác: Chi Nhánh trợ giúp pháp lý số 3 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Lò Văn T, sinh năm 1994.
Nơi ĐKHKTT: Bản BM, xã ẲN, huyện MA, tỉnh Điện Biên.
Hiện đang chấp hành án tại: Đội 12, phân trại số 3, trại giam Vĩnh Quang cục C10 Bộ công an. Địa chỉ: Xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. (Vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 01/10/2024, tại bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn chị Lường Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và anh Lò Văn T chung sống như vợ chồng từ năm 2013, sau đó đăng kí kết hôn ngày 11/12/2019 tại UBND xã Ẳng Nưa huyện Mường Ảng. Trước khi lấy nhau hai bên tự tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, quá trình tìm hiểu không có sự ép buộc và tác động bên ngoài. Sau khi cưới tôi và anh Lò Văn T về sinh sống tại bản BM, xã ẲN, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Trong quá trình chung sống, tôi và anh Lò Văn T sống hạnh phúc được một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Lò Văn T nghiện ma túy, không tu chí làm ăn, không quan tâm đến gia đình vợ con. Mâu thuẫn quá lớn khiến đời sống hôn nhân không thể hòa hợp, giữa vợ chồng tôi không thể tìm được tiếng nói chung. Mâu thuẫn giữa vợ chồng tôi đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Từ tháng 12 năm 2023 đến nay anh Lò Văn T đã vi phạm pháp luật và bị công an phường Ngọc Khuê, tỉnh Quảng Ninh bắt giữ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hiện đang chấp hành án tại: Trại Lán 14 Hạ Long, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh sau đó chuyển về trại giam Vĩnh Quang cục C10 Bộ công an. Nay tôi xét thấy không còn tình cảm với anh Lò Văn T. Vì vậy, tôi làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mường giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lò Văn T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi có 02 người con chung là cháu Lò Ngân K, sinh ngày 30/12/2019 và cháu Lò Công M, sinh ngày 10/02/2021. Hiện hai cháu đang sống cùng với tôi tại bản LC, xã NL, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Nguyện vọng của tôi sau khi ly hôn là tôi trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng đối với con chung tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, tài sản riêng: Tôi và anh Lò Văn T không có.
- Về nợ chung, nợ phải trả, nợ thu về: Tôi và anh Lò Văn T không có.
* Bị đơn: Theo nội dung Bản tự khai của anh Lò Văn T ngày 30/11/2024 anh Lò Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Tôi (Lò Văn T) và chị Lường Thị L kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, đã đăng ký kết hôn từ năm 2019 tại UBND xã Ẳng Nưa, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống hoà thuận không có mâu thuẫn gì xảy ra.
Về con chung: Tôi và chị Lường Thị L có 02 người con chung là cháu Lò Ngân K, sinh ngày 30/12/2019 và cháu Lò Công M, sinh ngày 10/02/2021. Tôi đề nghị Toà án nhân dân huyện Mường Ảng giao quyền nuôi con cho chị Lường Thị L nuôi dưỡng trong thời gian tôi chấp hành án.
Về tài sản chung, tài sản riêng; Về nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: Không có.
Ngày 30/11/2024 anh Lò Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nội dung đơn anh vẫn giữ nguyên như bản tự khai.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Yêu cầu của chị Lường Thị L là có căn cứ và hợp pháp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lường Thị L cụ thể như sau:
Thứ nhất về hôn nhân: Chị Lường Thị L và anh Lò Văn T chung sống như vợ chồng từ năm 2013, sau đó đăng kí kết hôn ngày 11/12/2019 tại UBND xã Ẳng Nưa huyện Mường Ảng. Trước khi lấy nhau hai bên tự tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, quá trình tìm hiểu không có sự ép buộc và tác động bên ngoài. Sau khi cưới chị Lường Thị L và anh Lò Văn T về sinh sống tại bản BM, xã ẲN, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Trong quá trình chung sống, chị Lường Thị L và anh Lò Văn T sống hạnh phúc được một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Lò Văn T nghiện ma túy, không tu chí làm ăn, không quan tâm đến gia đình vợ con. Mâu thuẫn quá lớn khiến đời sống hôn nhân không thể hòa hợp, giữa vợ chồng anh chị không thể tìm được tiếng nói chung. Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Từ tháng 12 năm 2023 đến nay anh Lò Văn T đã vi phạm pháp luật và bị công an phường Ngọc Khuê, tỉnh Quảng Ninh bắt giữ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hiện đang chấp hành án tại: Đội 12, phân trại số 3, trại giam Vĩnh Quang cục C10 Bộ công an. Xét thấy mâu thuẫn của chị Lường Thị L và anh Lò Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lường Thị L và tuyên bố chị Lường Thị L được ly hôn anh Lò Văn T.
Thứ hai về con chung: Chị Lường Thị L và anh Lò Văn T có 02 người con chung là cháu Lò Ngân K, sinh ngày 30/12/2019 và cháu Lò Công M, sinh ngày 10/02/2021. Nguyện vọng của chị Lường Thị L về việc giải quyết con chung là sau khi ly hôn, chị được trực Lò Văn T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Ngân K và cháu Lò Công M đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không yêu Tòa án giải quyết về dưỡng nuôi con chung. Hiện nay bản thân anh Lò Văn T đang đi chấp hành án nên đề nghị Hội đồng xét xử cần chấp nhận nguyện vọng của chị Lường Thị L về việc giao nuôi con chung cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Thứ ba: Trong quá trình chung sống chị Lường Thị L và anh Lò Văn T không có tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 147 BLTTDS, Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lường Thị L.
* Trong quá trình giải quyết vụ án:
Tòa án đã tiến hành xác minh điều kiện kinh tế của chị Lường Thị L tại bản LC, xã NL, huyện MA, tỉnh Điện Biên.
* Quan điểm của đại diện VKSND huyện Mường Ảng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: Tuyên bố chị Lường Thị L được ly hôn anh Lò Văn T.
Con chung: Chị Lường Thị L và anh Lò Văn T có 02 người con chung là cháu Lò Ngân K, sinh ngày 30/12/2019 và cháu Lò Công M, sinh ngày 10/02/2021. Giao cháu Lò Ngân K và cháu Lò Công M cho chị Lường Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Chị Lường Thị L và anh Lò Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
- Tài sản chung, tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Không có.
- Án phí: Chị Lường Thị L là người dân tộc thiểu số và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lường Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện VKSND huyện Mường Ảng. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 07/10/2024, Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án và đã có Công văn nhờ trại giam Vĩnh Quang tống đạt và anh Lò Văn T đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án. Bị đơn – Anh Lò Văn T đã bản tự khai đồng ý ly hôn với chị Lường Thị L.
Tòa án ra thông báo về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đã tiến hành tống đạt theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ. Anh Lò Văn T hiện đang chấp hành án nên không thể tham gia hòa giải tại Tòa án nên Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên không tổ chức hòa giải. Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt Quyết định theo quy định của pháp luật. Anh Lò Văn T nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử, anh Lò Văn T cũng viết đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh vì anh đang phải chấp hành án. Tại phiên tòa ngày 17/01/2025, nguyên đơn là chị Lường Thị L có đơn xin hoãn phiên toà do có việc bận, căn cứ điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử lại vào ngày 20/01/2025.
Nội dung vụ án:
* Về hôn nhân: Theo đơn xin ly hôn, tại phiên toà chị Lường Thị L trình bày và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử thấy: Chị Lường Thị L và anh Lò Văn T chung sống như vợ chồng từ năm 2013, sau đó đăng kí kết hôn ngày 11/12/2019 tại UBND xã Ẳng Nưa huyện Mường Ảng. Trong quá trình chung sống, chị Lường Thị L và anh Lò Văn T sống hạnh phúc được một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Lò Văn T nghiện ma túy, không tu chí làm ăn, không quan tâm đến gia đình vợ con. Mâu thuẫn quá lớn khiến đời sống hôn nhân không thể hòa hợp, giữa vợ chồng anh chị không thể tìm được tiếng nói chung. Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Từ tháng 12 năm 2023 đến nay anh Lò Văn T đã vi phạm pháp luật và bị công an phường Ngọc Khuê, tỉnh Quảng Ninh bắt giữ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hiện đang chấp hành án tại: Trại giam Vĩnh Quang. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Lường Thị L và anh Lò Văn T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 51 và khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Lường Thị L. Tuyên xử cho chị Lường Thị L được ly hôn với anh Lò Văn T.
* Về con chung: Chị Lường Thị L và anh Lò Văn T có 02 người con chung là cháu Lò Ngân K, sinh ngày 30/12/2019 và cháu Lò Công M, sinh ngày 10/02/2021.
Nguyện vọng của chị Lường Thị L sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Ngân K và cháu Lò Công M đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Về cấp dưỡng nuôi con chị Lường Thị L không yêu cầu Toà án giải quyết.
Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu Lò Ngân K và cháu Lò Công M sống cùng mẹ từ khi vợ chồng chị Lường Thị L và anh Lò Văn T không sống chung, anh Lò Văn T hiện đang đi chấp hành án cũng nhất trí giao con cho chị Lường Thị L chăm sóc nên để đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần cũng như quyền lợi về mọi mặt của các cháu, phù hợp với nguyện vọng của chị Lường Thị L, anh Lò Văn T, cần tiếp tục giao các cháu cho chị Lường Thị L trực tiếp chăm nom, chăm sóc, giáo dục các cháu đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Hội đồng xét xử, áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình cần chấp nhận nguyện vọng của chị Lường Thị L, anh Lò Văn T về việc giao nuôi con chung.
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Lường Thị L không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
* Tài sản chung; Về tài sản riêng; nợ phải trả; nợ thu về: Chị Lường Thị L và anh Lò Văn T không có nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
* Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chị Lường Thị L là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, nên miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lường Thị L.
Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng , người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biểu ý kiến hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật và nội dung vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS 2015.
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lường Thị L: Chị Lường Thị L được ly hôn anh Lò Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Lò Ngân K, sinh ngày 30/12/2019 và cháu Lò Công M, sinh ngày 10/02/2021 cho chị Lường Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lường Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Lò Văn T có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên; người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: Không có.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lường Thị L.
5. Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Chị Lường Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/01/2025), anh Lò Văn T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Ảng; - Chi cục THADS huyện Mường Ảng; - UBND xã Ẳng Nưa, h.Mường Ảng - Các Đương sự; Người bảo vệ quyền và lợi ích cho các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Vân |