- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05/3/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Lam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà
Ông Lê Văn Danh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Công Nguyên – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyết H.
Hộ khẩu thường trú: ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lý Thành K. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/9/2024, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 03/12/2024, nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết H trình bày:
Bà Trần Thị Tuyết H và ông Lý Thành K chung sống với nhau năm 2018 trên cơ sở tự nguyện, đến năm 2019 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 26/04/2019 theo giấy chứng nhận kết hôn số 36.
Trong thời gian đầu chung sống và sau khi tiến hành kết hôn, cuộc sống hôn nhân của bà H và Ông K cũng hạnh phúc như vợ chồng khác, cùng nhau làm ăn kinh tế. Sống được khoảng thời gian ngắn thì bà H và Ông K phát sinh nhiều mâu thuẫn, quan điểm sống không hợp nhau. Trước cuộc sống gia đình như vậy, bà H đã cố chịu đựng để giữ cho cuộc sống gia đình được tồn tại, nhưng việc cố gắng không hiệu quả, nay mối quan hệ hôn nhân giữa bà H và Ông K không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, việc sống chung không thể kéo dài nên phải ly hôn.
Về con chung: Bà H và Ông K có một người con chung là cháu Lý Thành K1, sinh ngày 18/6/2018, hiện tại đang sống với bà Trần Thị Tuyết H.
Nay bà Trần Thị Tuyết H yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Tuyết H yêu cầu được ly hôn với ông Lý Thành K.
Về con chung: Bà Trần Thị Tuyết H yêu cầu sau khi ly hôn giao cháu Lý Thành K1 cho bà Trần Thị Tuyết H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lý Thành K1 trưởng thành và có khả năng lao động, bà Trần Thị Tuyết H không yêu cầu ông Lý Thành K phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Đối với bị đơn ông Lý Thành K: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Lý Thành K, nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Lý Thành K vắng mặt, không tham gia tố tụng, không gửi cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết H có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn ông Lý Thành K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, là chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, thực hiện chưa đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết H đối với bị đơn ông Lý Thành K, giải quyết cho bà Trần Thị Tuyết H và ông Lý Thành K ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Lý Thành K1, sinh ngày 18/6/2018 cho bà Trần Thị Tuyết H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lý Thành K1 đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị Tuyết H không yêu cầu ông Lý Thành K cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Tuyết H tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Lý Thành K; Về con chung: Bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lý Thành K1, sinh ngày 18/6/2018 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Lý Thành K cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết H có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Đối với bị đơn ông Lý Thành K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Tuyết H và ông Lý Thành K tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 26/4/2019 cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Tuyết H và ông Lý Thành K là hợp pháp. Bà Trần Thị Tuyết H trình bày trong quá trình chung sống, giữa bà và ông Lý Thành K phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng ý kiến, sống chung không hoà hợp, gia đình không hạnh phúc, hai bên đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Cho nên bà Trần Thị Tuyết H đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lý Thành K. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập các đương sự đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm tìm ra được cách thức để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay bị đơn ông Lý Thành K không có ý kiến, cũng không đến tham dự phiên hòa giải, cũng không đến tham gia phiên tòa. Từ đó cho thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa hai người là trầm trọng, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại, dẫn đến mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không thể đạt được. Do vậy việc bà Trần Thị Tuyết H yêu cầu được ly hôn với ông Lý Thành K là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết H và giải quyết cho bà Trần Thị Tuyết H được ly hôn với ông Lý Thành K.
Về con chung: Bà Trần Thị Tuyết H và ông Lý Thành K có 01 con chung là cháu Lý Thành K1, sinh ngày 18/6/2018. Bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lý Thành K1 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Lý Thành K cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu Lý Thành K1 đang sống chung với bà Trần Thị Tuyết H, được bà Trần Thị Tuyết H chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Đồng thời, từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Lý Thành K cũng không phản đối việc bà Trần Thị Tuyết H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lý Thành K1. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu Lý Thành K1, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết H, giao cháu Lý Thành K1 cho bà Trần Thị Tuyết H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lý Thành K1 đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Lý Thành K không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Trần Thị Tuyết H không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Tuyết H tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Tuyết H phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Tuyết H được ly hôn với ông Lý Thành K.
- Về con chung:
Giao cháu Lý Thành K1, sinh ngày 18/6/2018 cho bà Trần Thị Tuyết H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lý Thành K1 đủ 18 (Mười tám) tuổi. Ông Lý Thành K không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Trần Thị Tuyết H không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, ông Lý Thành K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Tuyết H tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Trần Thị Tuyết H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0005180 ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; Như vậy, bà Trần Thị Tuyết H đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Cơ quan cấp giấy chứng nhận kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Lam |