vanban.org

Bản án 07/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.

Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Bùi Văn T. Về con chung: Chị H, anh T có một con chung là Bùi Duy K, sinh ngày 22/4/2015. Khi ly hôn giao cháu K cho chị H được trược tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền qua lại thăm nom con không ai đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồng - Thắng"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁ THƯỚC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc
“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Văn Đông

- Bà Trương Thị Quý

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bá thước, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nhữ Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 144/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; Sinh năm: 1990 (Có mặt).

2. Bị đơn:

Anh Bùi Văn T; Sinh năm: 1988 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn Khước Luyện, xã Điền Quang, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 10 năm 2024 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân:

Chị H và anh Bùi Văn T chung sống với nhau tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và đã thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã Thăng Thọ, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 16/02/2013. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, cả hai vợ chồng cùng đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh, đến tháng 8 năm 2018 vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H chuyển về quê ngoại ở thôn Thọ Thương, xã Thăng Thọ, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa để sinh sống, anh T không về quê ngoại cùng chị H mà vẫn đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh; anh T vẫn thường xuyên về quê và liên lạc với gia đình bên nội nhưng không về bên ngoại thăm vợ con, do xa cách nhiều năm và anh T không quan tâm đến gia đình nên dẫn đến vợ chồng không còn tình cảm, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa, nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Bùi Văn T.

- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung là cháu Bùi Duy K, sinh ngày 22/4/2015, hiện tại cháu K đang sống cùng chị H nên khi ly hôn chị H đề nghị giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K; anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền qua lại thăm nom con.

- Về tài sản chung và công nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú, nơi tạm trú của anh T, hiện tại anh T vẫn đăng ký thường trú tại thôn Khước Luyện, xã Điền Quang, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, không đăng ký tạm trú ở địa phương khác. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, giấy triệu tập và các văn bản, quyết định tố tụng cho anh Bùi Văn T nhưng anh T không có mặt tại Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Bá Thước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và Nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án là không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Về yêu cầu của người khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp về ly hôn, nuôi con với anh Bùi Văn T. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Bùi Văn T có nơi cư trú tại thôn Khước Luyện, xã Điền Quang, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Bị đơn anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với anh T.

Về nội dung:

- Về hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Bùi Văn T chung sống với nhau tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 16/02/2013 tại UBND xã Thăng Thọ, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng xa cách, anh T không quan tâm tới gia đình, vợ con trong thời gian dài (Từ năm 2018 đến nay) dẫn đến vợ chồng không còn tình cảm, hôn nhân không hạnh phúc. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, chị H và anh T đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, không ai còn quan tâm tới nhau. Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên họp, chứng tỏ anh T cũng không tha thiết hòa giải để đoàn tụ gia đình. Nay chị H xét thấy tình cảm giữa chị và anh T không còn nên chị H tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Quá trình thu thập chứng cứ tại địa phương phản ánh: Anh T và chị H trong thời gian mới kết hôn có sinh sống tại địa phương, sau đó vợ chồng thường xuyên đi làm ăn xa, việc đi làm xa nên dẫn đến có sự ngăn cách tình cảm vợ chồng, mặc dù đã được gia đình động viên đoàn tụ nhưng không có kết quả. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh T là có căn cứ.

- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh T có một con chung là cháu Bùi Duy K, sinh ngày 22/4/2015. Khi ly hôn chị H đề nghị giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K; anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tòa án đã triệu tập anh T để lấy ý kiến về việc tranh chấp nôi con cũng như tham gia các phiên hòa giải, tham gia phiên tòa, tuy nhiên anh T không có mặt để làm việc và cũng không có văn bản ý kiến trình bày gửi cho Tòa án. Xét thấy chị H có đủ điều kiện nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục con đảm bảo tốt về mọi mặt và hiện tại cháu K đang ở với chị H; Nguyện vọng của cháu K là được ở với mẹ. Để không xáo trộn việc sinh hoạt và học tập của cháu K nên khi ly hôn giao cháu K cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với yêu cầu của chị H và phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6, Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Về tài sản và công nợ chung: Nguyên đơn chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

- Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.

Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Bùi Văn T.

2. Về con chung: Chị H, anh T có một con chung là Bùi Duy K, sinh ngày 22/4/2015. Khi ly hôn giao cháu K cho chị H được trược tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền qua lại thăm nom con không ai được ngăn cấm, cản trở.

3. Về tài sản và công nợ: Nguyên đơn chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0006026 ngày 29/10/2024. Số tiền này được trừ vào số tiền án phí mà chị H phải nộp, theo đó chị H đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; anh Bùi Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ