vanban.org

Bản án 07/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ khoản 3, 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điề u 227; Điề u 229; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 117; Điều 119; Điề u 275; Điều 328; Điề u 584; Điề u 585; Điề u 586; Điề u 588; Điề u 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 188 Luật Đất đai 2013; Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự ; khoản 1, khoản 4 Điều 26, khoản 4 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng đặt cọc"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ khoản 3, 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điề u 227; Điề u 229; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 126 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/DS-ST
Ngày 30-5-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
và yêu cầu bồi thường thiệt hại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạ m Thế Chiế n.

2. Ông Nguyễ n Quang Hoà ng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 65/2022/TLST-DS ngày 08/6/2022 về việc “Tranh chấ p hợ p đồ ng đặ t cọ c và yêu cầ u bồ i thườ ng thiệ t hạ i” , theo Quyết đị nh đưa vụ án ra xét xử số : 22/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tò a số 21/2025/QĐST-DS ngà y 29 tháng 4 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn anh Nguyễn Thái S, sinh năm 1982;

HKTT: Số D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Chỗ ở hiệ n nay: Số H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Bị đơn anh Nguyễn Bảo H, sinh năm 1985 và chị Phan Thị Diệu T, sinh năm 1981;

Đị a chỉ : Buôn T, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đề u có mặ t

Ngườ i bả o vệ quyề n và lợ i í ch hợ p phá p củ a bị đơn : Ông Võ Đình D, sinh năm 1975; đị a chỉ số N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Văn T1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965;

Ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a ông T1, bà N là chị Trương Ngọc D1, sinh năm 1997; chị Trương Nguyễn Kiều N1, sinh năm 1986;

Cùng địa chỉ: Buôn K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắ ng mặ t.

- Ngườ i là m chứ ng: Anh Nguyễn Công T2, sinh năm 1994; đị a chỉ : Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Thái S trình bày:

Vào ngày 15/02/2022, tôi có nhậ n chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t củ a vợ

chồ ng anh Nguyễn Bảo H, chị Phan Thị Diệu T vớ i diệ n tí ch đấ t 16.500m2 nằ m trong thử a đấ t số 21 và một phần diện tích đất của thửa số 22, tờ bả n đồ số 61, đấ t tọ a lạ c tạ i Buôn T, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi tì m hiể u tôi đượ c biế t hiệ n Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t nà y đang thế chấ p tạ i Ngân hàng và vợ chồng anh H, chị T có thiệ n chí chuyển nhượng quyền sử dụng đất để trả nợ Ngân hàng cho nên tôi đã đồng ý nhậ n chuyể n nhượ ng đấ t nêu trên vớ i giá hai bên thỏ a thuậ n là 1.485.000.000 đồ ng. Vợ chồ ng anh H, chị T cam kế t trong hợ p đồ ng đặ t cọ c là 45 ngày sẽ tiến hành các thủ tục công chứ ng sang tên Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t cho tôi . Để tạ o niề m tin cho nhau và o ngà y 15/02/2022 giữ a hai bên có thiế t lậ p Hợ p đồ ng đặ t cọ c, theo đó tôi có đặ t cọc trước cho vợ chồng H, T 50.000.000đồ ng và ng ày 18/02/2022 tôi đặ t cọ c thêm 50.000.000 đồ ng để đượ c vợ chồ ng anh H, chị T bàn giao đất cho tôi sửa chữa , nâng cấ p đườ ng và o rẫ y và cả i tạ o đấ t mà tôi nhậ n chuyể n nhượ ng.

Ngày 17/02/2022 tôi đã liên hệ anh Nguyễn Công T2 là người có máy móc đến xem để thi công sử a chữ a, nâng cấ p con đườ ng và o rẫ y 900m dà i x 6m ngang và cả i tạ o 16.500m2 đấ t rẫ y, sau khi khả o sá t xong hai bên thỏ a thuậ n thố ng nhấ t toà n bộ chi phí 200.000.000 đồ ng. Ngày 18/02/2022 anh T2 đưa má y mó c và o thi công đế n ngà y 13/03/2022 thi công xong, đến ngày 15/3/2022 các bên thanh lý hợp đồ ng và tôi trả hế t tiề n cho anh T2.

Tại Hợp đồng đặt cọc hai bên đã thỏa thuận rõ trong thời hạn

45 ngày tính từ ngày 15/02/2022 anh H, chị T sẽ tiến hành các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đấ t sang tên bì a đỏ cho tôi , tuy nhiên hế t 45 ngày và kéo dài thời hạn sau này tôi đã nhiề u lầ n yêu cầ u vợ chồ ng anh H, chị T tiế n hà nh cá c thủ tụ c chuyể n nhượ ng quyề n sử dụng đất cho tôi như đã cam kết nhưng vợ chồng anh H, chị T vẫ n không tiế n hà nh cá c thủ tục chuyển nhượng tách bìa đỏ sang cho tôi . Đế n nà y 24/5/2022, sau khi đọ c đượ c thông tin đăng bá n quyề n sử dụ ng đấ t trên mạ ng tôi mớ i biế t vợ chồ ng anh H, chị T đã tách nhỏ lô đất đã cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tôi và anh

H chị T chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t nà y cho ông Trương Văn T1, bà Nguyễn Thị N.

Để đả m bả o quyề n lợ i cho mì nh , nay tôi làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyế t tuyên Hợ p đồ ng đặ t cọ c giữ a tôi vớ i vợ chồ ng anh H, chị T ngày 15/02/2022 có hiệ u lự c; buộ c vợ chồ ng anh Nguyễn Bảo H, chị Phan Thị Diệu T trả cho tôi tổng số tiề n 400.000.000 đồ ng, trong đó tiề n cọ c là

100.000.000 đồ ng, tiề n phạ t cọ c 100.000.000 đồ ng và 200.000.000 đồ ng tiề n chi phí để sử a chữ a , nâng cấ p con đườ ng 900m dà i x 6m ngang và cả i tạ o 16.500 m2 đấ t rẫ y.

* Bị đơn anh Nguyễn Bảo H, chị Phan Thị Diệu T trình bà y:

Về quá trình thỏ a thuậ n ký hợp đồng đặt cọc , số tiền và nộ i dung trong hợp đồng đặt cọc vợ chồ ng tôi thống nhất ý kiến với anh S trình bày trên.

Ngày 15/02/2022, vợ chồ ng tôi (anh H, chị T) có ký hợp đồng đặt cọc với anh S nhằm mục đích để giao kết và thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t quyề n sở hữ u nhà ở và tà i sản khác gắn liền với đất: số BA 718745, thử a số 21, tờ bả n đồ số 61 và số BA 718746, thử a số 22, tờ bả n đồ số 61, vớ i tổ ng diệ n tí ch đấ t 02 thử a là 16.500m2, giá chuyển nhượ ng hai bên thỏ a thuậ n là 1.485.000.000đồ ng. Các bên ký Hợp đồng đặt cọc ngày 15/02/2022 anh S đưa vợ chồ ng tôi số tiề n 50.000.000 đồ ng và lầ n 02 anh S đưa thêm 50.000.000đồ ng tiề n cọ c và o ngà y 18/02/2022. Tuy nhiên, sau đó vợ chồ ng tôi nhậ n thấ y không thể chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t trên cho anh Nguyễn Thái S nên đã trao đổ i vớ i anh S để vợ chồng tôi trả lại tiền đặ t cọ c và bồ i thườ ng tiề n cọ c , hỗ trợ thêm 20.000.000 đồ ng tiề n là m đườ ng , cải tạo đất rẫy . Đế n ngà y 05/3/2002 anh S vào nhà vợ chồng tôi có trao đổi trả tiền cọc 100.000.000 đồ ng, phạt cọc 100.000.000 đồ ng và tiền bồi thường 20.000.000 đồ ng cho anh S nhưng anh S không nhậ n tiề n. Đế n ngà y 24/4/2002 anh S vào nhà vợ chồ ng tôi đò i bồ i thườ ng 500.000.000 đồ ng thì gia đì nh tôi không đồ ng ý mà vợ chồ ng tôi chỉ đồ ng ý trả tiề n cọ c , bồ i thườ ng cọ c và hỗ trợ thêm tiề n sử a đườ ng, cải tạo đất rẫy nêu trên nhưng anh S không đồ ng ý .

Đồng thời, trong thờ i gian nà y vợ chồ ng tôi liên tụ c nhậ n tin Ngân hà ng thông

báo yêu cầu thu sếp trả nợ Ngân hàng mà vợ chồng tôi vay nên vợ chồ ng tôi phả i chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t cho ông Trương Văn T1, bà Nguyễn Thị N để có tiề n trả nợ Ngân hà ng.

Nay anh S khở i kiệ n thì ý kiế n vợ chồ ng tôi chỉ đồ ng ý trả cho anh S 100.000.000 đồ ng tiề n cọ c và hỗ trợ 04 ngày anh S sử a chữ a, nâng cấ p đườ ng và cả i tạ o đấ t vớ i số tiề n 20.000.000 đồ ng.

- Ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn T1, bà Nguyễn Thị N là chị Trương Ngọc D1, chị Trương Nguyễn Kiều N1 trình bày:

Ngày 25/5/2022, ông Trương Văn T1, bà Nguyễn Thị N có nhận chuyển nhượng quyề n sử dụ ng đấ t củ a vợ chồ ng anh Nguyễn Bảo H, chị Phan Thị Diệu T theo Hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t đã đượ c công chứ ng tạ i Văn phòng C số công chứ ng 0056007 quyể n số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD mộ t cá ch hợ p phá p , không trá i đạ o đứ c xã hộ i . Tuy nhiên khi ông T1, bà N tiế n hà nh thủ tụ c đăng bộ tạ i Văn phòng đăng ký đất đai huyện K thì có Quyết định áp dụng diện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2022/QĐ-BPKKTT ngà y 01/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện K

ngăn chặ n chuyể n nhượ ng do “Tranh chấ p hợ p đồ ng đặ t cọ c” giữ a anh Nguyễn Thái S vớ i anh H, chị T nên ả nh hưở ng rấ t lớ n đế n quyề n lợ i hợ p phá p củ a ông T1, bà N.

Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xem xét lại việc căn cứ vào

đâu mà á p dụ ng biệ n phá p khẩ n cấ p nà y gây ả nh hưở ng đến quyền lợi của ông T1, bà N và xem xét lỗi của ai để có trách nhiệm bồi thường cho ông

T1, bà N theo quy đị nh pháp luật.

Đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thái S thì ông T1, bà N không có ý kiế n gì .

- Ngườ i là m chứ ng anh Nguyễn Công T2 trình bày: Vào ngày 17/02/2022, giữ a tôi vớ i anh S có ký Hợp đồng kinh tế về việc anh S thuê tôi thi công sử a chữ a, nâng cấ p con đườ ng và o rẫ y dà i 900m, mở rộ ng đườ ng từ 5m đế n 6m và cả i tạ o đấ t rẫ y 16.500m2 mà tôi được biết anh S mớ i nhậ n chuyể n nhượ ng củ a vợ chồ ng anh H, chị T, sau khi khảo sát thực tế ước lượng công việc tôi quy ra số tiền 200.000.000 đồ ng và anh S ứng trướ c cho tôi 100.000.000 đồ ng. Tôi là ngườ i có má y mú c , máy cày và tôi trực tiếp thi công bắ t đầ u từ ngà y 18/02/2022 đến ngày 12/3/2022 tôi thi công xong cho anh S như đã thỏ a thuậ n tạ i Hợ p đồ ng kinh tế . Đế n ngà y 15/3/2022 thì tôi với anh S thanh lý hợ p đồ ng, anh S trả hết tiền cho tôi cò n lạ i 100.000.000đồ ng (ghi mặ t sau củ a Hợ p đồ ng kinh tế ).

Về chi tiế t thi công tôi có ý kiế n : Sau khi anh S dẫ n tôi đi khả o sá t và ý kiế n củ a anh S nâng cấ p, sử a chữ a , mở rộ ng đườ ng và cả i tạ o đấ t rẫ y nêu trên thì tôi chỉ ướ c lượ ng công việ c phả i thi công ; còn cụ thể đào rãnh dài rộng sâu , san lấ p, nâng cấ p cao thấ p, đổ bao nhiêu khố i đấ t củ a con đườ ng và o rẫ y và cả i tạ o đấ t san lấ p lồ i lõ m , cào sử a đườ ng quanh rẫ y , dọn cỏ ở đất rẫy bao nhiêu ca , bao nhiêu khố i đấ t thì tôi không tính được cụ thể . Về nộ i dung củ a Hợ p đồ ng kinh tế ngà y 17/02/2022 ký kết giữa tôi vớ i anh S chỉ có ước lượng khối lượng công việc quy ra ca máy để tính ra tiền, còn khối lượ ng chi tiế t cụ thể từ ng phầ n mụ c thi công như thế nà o thì chú ng tôi không tí nh đượ c.

Về yêu cầ u khở i kiệ n củ a anh Nguyễn Thái S thì tôi không có ý kiến gì . Đối với vụ án này tôi chỉ là người làm chứng trong vụ án chứ không liên quan đến vụ án . Vì tôi đượ c biế t sau khi anh S ký hợp đồng đặt cọc và nhận đất rẫy của vợ chồng anh H, chị T mớ i thuê tôi thi công như đã trì nh bà y trên , việ c thi công đã xong và giữ a tôi vớ i anh S đã thanh lý hợ p đồ ng nên tôi không có liên quan đến vụ án này . Do bậ n công việ c tôi xin đượ c vắ ng mặ t tạ i phiên tò a xé t xử sơ thẩ m.

* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk:

- Về tố tụng:

+ Thẩm phán , Hội đồng xét xử , Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy đị nh của

pháp luật tố tụng dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự : Nguyên đơn; bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn thực hiện đầy đủ các quyền , nghĩa vụ của đương sự. Người làm chứng chưa thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình.

+ Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác đị nh tư cách tham gia tố tụng của đương sự, thông báo về việc thụ lý vụ án , thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết đị nh đưa vụ án ra xét xử và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự đúng quy đị nh của pháp luật.

Tuy nhiên, đố i vớ i phầ n thủ tục tố tụng Tòa án đã ch ậm tiến hành xác minh thu thậ p chứ ng cứ yêu cầ u nguyên đơn anh S cung cấ p cá c tà i liệ u theo đề nghị củ a Công ty TNHH T4 và Gia hạn trong thời hạn 02 tháng chưa tiến hành các thủ tục tố tụng tiếp theo.

- Về nộ i dung:

+ Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn : Đối với hợp đồng đặt cọc ngày 15/02/2022 đượ c hai bên đương sự tự nguyệ n thỏ a thuậ n , nộ i dung và hì nh thứ c hợ p đồ ng đặ t cọ c không vi phạ m điề u cấ m phá p luậ t, không trá i đạ o đứ c xã hội nên Hợp đồng đặt cọc này có hiệu lực. Tại Hợp đồng đặt cọc hai bên thỏa thuận trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng đặt cọc vợ chồng anh H, chị T có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục sang tên quyề n sử dụ ng đấ t cho anh S; tuy nhiên hế t thờ i hạ n 45 ngày anh H, chị T vẫ n không thự c hiệ n việ c chuyể n nhượ ng như đã cam kế t tạ i Hợ p đồ ng đặ t cọ c . Vì vậy, cầ n chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a anh S đố i vớ i số tiề n cọ c 100.000.000 đồ ng và phạ t cọc số tiền 100.000.000 đồ ng.

Đối với yêu cầu bồi thường: Bị đơn anh H, chị T thừ a nhậ n ngà y 18/2/2022 anh S có đưa máy móc vào làm đường và cải tạo đất làm đườ ng quanh bờ hồ nên việ c anh S thuê má y mó c thi công là có thậ t . Tuy nhiên, nguyên đơn anh S không cung cấ p đượ c chi tiế t hạ mụ c thi công và tạ i Biên bả n đị nh giá 19/02/2025 Hộ i đồ ng đị nh giá tà i sả n không đị nh giá đượ c thi công sử a chữ a, nâng cấ p con đườ ng và o rẫ y dà i 900m, mở rộ ng đườ ng 6m và cả i tạ o đấ t rẫ y 16.500 m2. Quá trình giải quyết vụ án vợ chồng anh H, chị T đồ ng ý hỗ trợ cho anh S số tiề n 20.000.000 đồ ng chi phí cả i tạ o đấ t rẫ y 16.500m2, cầ n chấ p nhậ n việ c hỗ trợ nà y là phù hợ p.

Từ phân tí ch trên , đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi

kiệ n củ a nguyên đơn anh Nguyễn Thái S. Buộ c vợ chồ ng anh H, chị T trả cho anh S tổ ng số tiề n 220.000.000 đồ ng, trong đó tiề n cọ c là 100.000.000 đồ ng, phạt cọc là 100.000.000 đồ ng và chi phí sử a sang đấ t rẫ y là 20.000.000 đồ ng.

- Về chi phí tố tụ ng và án phí: Đương sự phả i chị u theo quy đị nh phá p luậ t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận đị nh như sau:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Nguyễn Thái S khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tuyên Hợ p đồ ng đặ t cọ c ký kế t ngà y 15/02/2022 giữ a anh S vớ i anh Nguyễn Bảo H, chị Phan Thị Diệu T có hiệu lực và buộc anh H, chị T phải trả cho anh

S tổ ng số tiề n 400.000.000 đồ ng, trong đó 100.000.000đồ ng tiề n đặ t cọ c , 100.000.000 đồ ng tiề n phạ t cọ c và 200.000.000 đồ ng tiề n chi phí sử a sang nâng cấ p con đườ ng 900m dà i x 6m ngang, cải tạo 16.500m2 đấ t. Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và yêu cầ u bồ i thườ ng thiệ t hạ i” ; căn cứ khoản 3, 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana thụ lý, giải quyết là đúng quy định pháp luật.

. Về thủ tục tố tụng: Ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan Trương Văn T1, bà Nguyễn Thị N là chị Trương Nguyễn Kiều N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và ngườ i là m chứ ng anh Nguyễn Công T2 có đơn xin xét xử vắng mặt . Áp dụng khoả n 2 Điề u 227, Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ, theo thủ tục quy định chung.

. Xét nguyên đơn khởi kiện yêu cầ u Tò a á n tuyên Hợ p đồ ng đặ t

cọc ngày 15/02/2022 có hiệu lực.

. Xét về hình thức của Hợp đồng đặt cọc: Hợp đồng đặt cọc giữa anh H, chị T vớ i anh S ghi ngày 15/02/2022 và không có công chứng , chứng thực ở cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, loại hợp đồng này không thuộc trường hợp bắt buộc phải có công chứng, chứng thực theo quy đị nh phá p luậ t . Tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc, các bên tham gia ký kết hợp đồng đặt cọc đều đủ năng lực hành vi dân sự, việc giao kết hợp đồng xuất phát từ ý chí tự nguyện của các bên, không bị ép buộc; mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, hình thức của hợp đồng là phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 119, Điều 328 của Bộ luậ t dân sự .

. Xét về nội dung của hợp đồng đặt cọc : Việc các bên lập hợp đồng đặt cọc là để đảm bảo cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đấ t củ a toà n bộ diệ n tí ch thử a đấ t số 21 và một phần diệ n tí ch thử a đấ t số 22, tờ bả n đồ số 61, vớ i tổ ng diệ n tí ch 16.500m2, đấ t tọ a lạ c tại buôn T, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Như vậy, đối tượng giao dịch của hợp đồng đặt cọc là có thật và không vi phạm quy định tại Điều 188 Luậ t đấ t đai năm 2013; các bên tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng. Trong hợp đồng đặt cọc có nêu giá trị của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, phương thức thanh toán, thời gian hoàn thành giao dịch mua bán, trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên khi vi phạm hợp đồng... Như vậy, nội dung của hợp đồng đặt cọc là hợp pháp, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên hợp đồng đặt cọc có hiệu lực pháp luật.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

. Anh S khởi kiện yêu cầu Tò a á n giả i quyế t buộ c bị đơn vợ chồ ng anh H, chị T trả lạ i số tiền đã nhậ n cọc để chuyển nhượng quyề n sử dụ ng đất và tà i sả n gắ n liề n vớ i đấ t là 100.000.000 đồng (mộ t trăm triệu đồng ) và 100.000.000 đồ ng tiề n phạ t cọ c . Hội đồng xét xử nhận định:

Giữ a anh S và vợ chồng anh H, chị T đều thừa nhận ngày 15/02/2022 các bên có ký hợp đồng đặ t cọ c để thỏ a thuậ n việ c chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t diệ n tí ch đấ t 16.500m2 thuộ c thử a đấ t số 21+ 22, tờ bả n đồ số 61; đấ t tọ a lạ c tạ i buôn T, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vớ i giá chuyể n nhượ ng 1.485.000.000 đồ ng và vợ chồ ng anh H, chị T đã nhậ n cọ c củ a anh S 02 lầ n vớ i số tiề n 100.000.000đồ ng, thờ i hạ n đặ t cọ c là 45 ngày.

Xét thấy trong thời hạn 45 ngày tính từ ngày đặ t cọ c vợ chồ ng anh H, chị T không tiế n hà nh cá c thủ tụ c chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t cho anh S như đã thỏ a thuậ n tạ i Hợ p đồ ng đặ t cọ c ngà y 15/02/2022 và việc bị đơn anh H, chị T có trao đổi với anh S về việ c trả tiề n cọ c , chịu phạt cọc và hỗ trợ số tiền khoảng 20.000.000 đồ ng cho anh S đã thuê má y sử a chữ a , nâng cấ p con đườ ng , cải tạo đất. Tuy nhiên anh S không đồ ng ý mà vẫ n đề nghị tiế p tụ c thự c hiệ n giao dị ch như đã cam kế t trong hợ p đồ ng đặ t cọc, hế t thờ i hạ n đặ t cọ c cá c bên thỏ a thuậ n ngà y 02/4/2022 vợ chồ ng anh H, chị T vẫ n không tiế n hà nh cá c thủ tụ c chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sang tên chủ quyền sử dụ ng đất cho anh Nguyễn Thái S đúng như đã thỏa thuận cam kế t trong Hợp đồng đặt cọc là vi phạ m nghĩ a vụ theo Hợ p đồ ng đặ t cọ c đã ký kế t.

Sau khi hế t thờ i hạ n đặ t cọc anh S vẫ n yêu cầ u vợ chồ ng anh H, chị T thự c hiệ n giao dị ch trong Hợ p đồ ng đặ t cọ c, trườ ng hợ p không thự c hiệ n thì anh S yêu cầ u anh H, chị T bồ i thườ ng 500.000.000 đồ ng nhưng anh H, chị T vẫn không thực hiện và không nêu rõ lý do của việc không thực hiện giao dịch là vi phạm hợp đồng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 328 của Bộ luật dân sự “Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc”. Do bị đơn anh H, chị T đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng đặt cọc, nên phía nguyên đơn anh S yêu cầu Tò a á n buộ c bị đơn anh H, chị T phải trả lại số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng và trả một khoản tiền tương đương với giá trị đặt cọc là 100.000.000 đồng như đã thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc là có cơ sở chấp nhận theo quy đị nh phá p luậ t.

Xét ý kiến của bị đơn anh H, chị T cho rằ ng chỉ trả lạ i cho anh S 100.000.000 đồ ng tiề n đặ t cọ c và không trả 100.000.000 đồ ng tiề n phạ t cọ c là không có cơ sở như đã phân tí ch ở trên.

. Anh S khởi kiện yêu cầu Tò a á n giả i quyế t buộ c bị đơn anh H, chị T phải bồ i thườ ng 200.000.000 đồ ng tiề n chi phí để sử a chữ a , nâng cấ p con đườ ng dà i 900m x 6m ngang và cả i tạ o diệ n tí ch đấ t 16.500m2. Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n đị nh:

Xét việc anh S khở i kiệ n yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t buộ c vợ chồ ng anh H, chị T bồ i thườ ng chi phí má y mó c th i công để sử a chữ a , nâng cấ p con đườ ng dà i 900m x 6m ngang: Xét thấy sau khi ký hợp đồng đặt cọc để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng anh H, chị T vớ i diệ n tí ch 16.500m2 đấ t củ a thử a số 21+22, tờ bả n đồ số 30, đấ t tọ a lạ c tạ i buôn T, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk anh S đã tự ý sử a chữ a , nâng cấ p con đườ ng và o đấ t rẫ y củ a vợ chồ ng anh H, chị T mà anh nhận chuyển nhượng. Đối vớ i con đườ ng nà y không thuộc sự quản lý của vợ chồng anh H, chị T mà là con đường chung củ a cá c hộ có đấ t rẫ y dọ c theo đườ ng và thuộ c sự quả n lý mộ t phầ n củ a UBND xã E và một phần UB ND xã Dray Sá p , khi anh S tiế n hà nh sử a chữ a , nâng cấ p con đườ ng không hỏ i ý kiế n củ a UBND xã D, UBND xã E. Vì vậy, việ c anh S khở i kiệ n yêu cầ u Tò a á n buộ c vợ chồ ng anh H, chị T bồ i thườ ng chi phí má y mó c thi công để sử a chữ a, nâng cấ p con đườ ng dà i 900m x 6m ngang là không có cơ sở . Hộ i đồ ng xé t xử không đặ t ra xem xé t giả i quyế t.

Bị đơn vợ chồ ng anh H, chị T thừ a nhậ n và o ngà y 18/02/2022 anh S thuê anh T2 đưa má y mú c và o là m đườ ng và cả i tạ o đấ t rẫ y củ a vợ chồ ng anh

H, chị T chuyể n nhượ ng cho anh S. Vì vậy, việ c anh S khở i kiệ n yêu cầ u vợ chồ ng anh H, chị T bồ i thườ ng là phù hợ p . Tuy nhiên , tại Hợp đồng kinh tế về việ c nâng cấ p đườ ng và sử a chữ a mặ t bằ ng ngà y 17/02/2022 và Giấy kê cách tính khối lượng san lấp đã thực hiện mà anh S tính toán kê nộp cho Tòa án ngày 02/01/2025 không thể hiệ n chi tiế t mụ c , hạng thi công; khố i lượ ng đà o mú c đấ t; san lấ p mặ t bằ ng; kích thước đào rãnh dài, rộ ng, sâu… nên việ c Tò a á n đã quyế t đị nh đị nh giá và thà nh l ập Hội đồng định giá nhưng không tiế n hà nh đị nh giá đượ c do không có cơ sở phá p lý . Đồng thời, anh S là người thuê má y múc và anh T2 là người trực tiếp thi công cũng thừa nhận không tính được cụ thể chi tiế t khố i lượ ng công việ c thi công từ ng phầ n mà chỉ ướ c lượ ng nhậ n khoá n là m.

Xét ý kiến anh T2 cho rằ ng thờ i gian thi công bắ t đầ u từ ngà y 18/02/2022 đến ngày 12/3/2022; tuy nhiên bị đơn anh H, chị T chỉ thừa nhận thi công từ ngày 18/02/2022 đến ngày 22/02/2022 anh S đưa má y mú c về . Các anh T2, anh H, chị T không có tà i liệ u , chứ ng cứ chứ ng minh chi tiế t thi công từ ng hạ ng mụ c và thờ i gian máy móc làm nên chưa đủ cơ sở tí nh thờ i hạ n thi công nà y.

Xét việ c anh S khở i kiệ n yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t buộ c vợ chồ ng anh H, chị T bồ i thườ ng chi phí máy móc thi công cải tạo diện tích đất rẫy 16.500m2: Xét ý kiến anh S cho rằ ng tổ ng chi phí cả i tạ o , sử a chữ a nà y hế t 58.100.000 đồ ng, tuy nhiên anh S không có tà i liệ u chứ ng cứ chứ ng minh khố i lượ ng công việ c thi công và Hộ i đồ ng đị nh giá không có cơ sở dữ liệ u đị nh giá đượ c như đã phân tí ch ở trên nên cầ n chấ p nhậ n ý kiế n củ a bị đơn bồ i thườ ng cho anh S 20.000.000 đồ ng đố i vớ i phầ n cả i tạ o diệ n tí ch đấ t 16.500m2 là phù hợp.

. Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xé t thấ y cầ n chấp nhận mộ t phầ n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh

S tuyên Hợ p đồ ng đặ t cọ c ngà y 15/02/2022 có hiệu lực ; buộ c vợ chồ ng anh H, chị T phải trả cho anh S tổ ng số tiề n 220.000.000 đồ ng (trong đó tiề n cọ c 100.000.000 đồ ng, phạt cọc 100.000.000 đồ ng và bồ i thườ ng cả i tạ o đấ t 20.000.000 đồ ng); không chấ p nhậ n yêu cầ u bồ i thườ ng chi phí sử a chữ a, nâng cấ p đườ ng và cả i tạ o đấ t số tiề n 180.000.000 đồ ng là là có cơ sở .

. Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn anh H, chị T là ông Võ Đình D đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn anh S đố i vớ i phầ n tiề n phạ t cọ c và bồ i thườ n g thiệ t hạ i là không có cơ sở chấ p nhậ n như đã phân tí ch mụ c [4.1], [4.2] trên.

. Xét ý kiế n của ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn T1, bà Nguyễn Thị N là chị Trương Nguyễn Kiều N1 đề nghị Tòa án xem xé t lạ i việ c căn cứ và o đâu mà ban hà nh Quyế t đị nh á p dụ ng biệ n phá p khẩ n cấ p tạ m thờ i số 01/2022/QĐ-BPKCTT ngà y 01/6/2022 gây ả nh hưở ng đế n quyề n lợ i củ a ông T1, bà N và xem xét lỗi của ai để có trách nhiệm bồi thường cho ông T1, bà N theo quy đị nh phá p luậ t.

Xét thấy sau khi Tòa án nhân dân huyện K nhậ n đượ c đơn yêu cầ u á p dụ ng biệ n pháp khẩn cấp tạ m thờ i “cấ m chuyể n dị ch quyề n về tà i sả n đố i vớ i tà i sả n đang tranh chấ p” của anh Nguyễn Thái S; căn cứ và o khoả n 1 Điề u 11, khoản 1 Điề u 112 của Bộ luậ t tố tụ ng dân sự , Tòa án nhân dân huyện K ban hà nh Quyế t đị nh á p dụ ng biệ n phá p khẩ n cấ p tạ m thờ i số 01/2022/QĐ-BPKCTT ngà y 01/6/2022 theo đú ng quy đị nh phá p luậ t. Ngày 29/7/2022, Tòa án nhân dân huyện K nhậ n đượ c Đơn khiế u nạ i ghi ngà y 29/7/2022 của ông T1, bà N khiế u nạ i Quyế t đị nh á p dụ ng biệ n phá p khẩ n cấ p tạ m thờ i số 01/2022/QĐ-BPKCTT ngà y 01/6/2022 này. Ngày 04/8/2022, Tòa án nhân dân huyện K ban hà nh Công văn số 03/CV-TA về trả lờ i Đơn khiế u nạ i củ a ông T1, bà N theo quy đị nh phá p luậ t. Vì vậy, Hộ i đồ ng xé t xử không đặ t ra xem xé t giả i quyế t.

. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy đị nh của pháp luật.

. Về chi phí thẩm định tại chỗ, đo đạ c và đị nh giá tà i sả n:

- Do yêu cầu khở i kiệ n củ a nguyên đơn anh S được chấp nhận mộ t phầ n nên nguyên đơn anh S và bị đơn anh H, chị T mỗ i bên phả i chị u ½ tổ ng số tiề n thẩ m đị nh , đo đạ c và đị nh giá tà i sả n 11.868.000đồ ng; số tiề n nà y anh S đã nộ p nên anh S đượ c nhậ n lạ i số tiề n tạ m ứ ng chi phí thẩ m đị nh , đo đạ c và đị nh giá 5.934.000 khi Chi cục Thi hành án dân sự thu được tiền chi phí của anh H, chị T.

. Về án phí : Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự ; khoản 1, khoản 4 Điều 26, khoản 4 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đị nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Do chấ p nhậ n mộ t phầ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a nguyên đơn anh Nguyễn Thái S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đố i vớ i số tiề n 220.000.000 đồ ng nên bị đơn anh H, chị T phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là

220.000.000 đồ ng x 5% = 11.000.000đồ ng.

- Do không chấ p mộ t ph ần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 180.000.000 đồ ng nên anh S phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 180.000.000 đồ ng x 5% = 9.000.000 đồ ng. Khấ u trừ số tiề n anh Nguyễn Thái S nộ p tiề n tạ m ứ ng á n phí dân sự sơ thẩ m 10.000.000 đồng đã nộp theo Biên lai số 0015074 ngày 01/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. Anh S nhậ n lạ i số tiề n 1.000.000 đồ ng.

. Về biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2022/QĐ-BPKCTT ngày 01/6/2022 “cấ m chuyể n dị ch quyề n về tà i sả n đang tranh chấ p” là quyề n sử dụ ng đấ t diệ n tí ch 1108,4m2, thuộ c thử a đấ t số 99, tờ bả n đồ 61 và quyền sử dụng đất diện tích 1221,7m2, thuộ c thử a đấ t số 106, tờ bả n đồ 61 (thử a đấ t số 99 và 106 đượ c tá ch ra từ thử a đấ t số 21), đị a chỉ đất tại xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đến nay không có căn cứ để thay đổi, hủy bỏ biện pháp khản cấp tạm thời trên; căn cứ Điều 126 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1, 2 Điều 19 Nghị quyết số 02/2020/HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cần tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 01/2022/QĐ-BPKCTT ngày 01/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện K về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “cấ m chuyể n dị ch quyề n về tà i sả n đố i vớ i tà i sả n đang tranh chấ p”.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ khoản 3, 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điề u 227; Điề u 229; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 117; Điều 119; Điề u 275; Điều 328; Điề u 584; Điề u 585; Điề u 586; Điề u 588; Điề u 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 188 Luật Đất đai 2013;

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự ; khoản 1, khoản 4 Điều 26, khoản 4 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đị nh về mức thu , miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2]. Tuyên xử:

Chấp nhận mộ t phầ n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh

Nguyễn Thái S. Buộc anh Nguyễn Bảo H, chị Phan Thị Diệu T phải trả cho anh Nguyễn Thái S tổ ng số tiề n 220.000.000 đồ ng (trong đó 100.000.000 đồ ng tiề n đặ t cọ c, 100.000.000 đồ ng tiề n phạt cọc và 20.000.000 đồ ng tiề n bồ i thườ ng cả i tạ o 16.500m2 đấ t rẫ y).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Không chấ p nhậ n mộ t phầ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a anh Nguyễn Thái S về việ c buộc vợ chồ ng anh Nguyễn Bảo H, chị Phan Thị Diệu T bồi thường thiệt hại cho anh S về chi phí thi công để sử a chữ a, nâng cấ p con đườ ng dà i 900m x 6m ngang vớ i số tiề n 180.000.000 đồ ng

[3]. Về chi phí thẩm định tại chỗ, đo đạ c và đị nh giá tài sản:

Nguyên đơn anh S và bị đơn anh H, chị T mỗ i bên phả i chị u ½ tổ ng số tiề n thẩ m đị nh, đo đạ c và đị nh giá tà i sả n 11.868.000đồ ng; số tiề n nà y anh S đã nộ p nên anh S đượ c nhậ n lạ i số tiề n tạ m ứ ng chi phí thẩ m đị nh , đo đạ c và đị nh giá 5.934.000 khi Chi cục Thi hành án dân sự thu được tiền chi phí của anh H, chị T.

[4]. Về án phí:

- Bị đơn anh Nguyễn Bảo H, chị Phan Thị Diệu T phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 11.000.000đồ ng.

- Nguyên đơn anh Nguyễn Thái S phải chị u á n phí dân sự có giá ngạ ch là

9.000.000 đồ ng. Khấ u trừ số tiề n anh Nguyễn Thái S nộ p tiề n tạ m ứ ng á n phí dân sự sơ thẩ m 10.000.000 đồng đã nộp theo Biên lai số 0015074 ngày 01/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. Anh S nhậ n lại số tiền 1.000.000 đồ ng.

[5]. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 01/2020/QĐ-BPKCTT ngày 01/ 6 /2022 của Tòa án nhân dân huyện K về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “cấ m chuyể n dị ch quyề n về tà i sả n đố i vớ i tà i sả n đang tranh chấ p”.

Các đương sự nguyên đơn , bị đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án , quyết định được thi hà nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hà nh án dân sự , người phải thi hà nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi hà nh án, quyền yêu cầu thi hà nh án, tự nguyện thi hà nh án hoặ c bị cưỡng chế thi hà nh án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hà nh án dân sự ; thời hiệu thi hà nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hà nh án dân sự.

Cỡ chữ