- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Năm "Vận chuyển hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số:07/2024/HS-ST Ngày 27/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Thanh Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Xuân Tạo.
Ông Hoàng Đoán
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Gio Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 N 2024, Toà án nhân dân huyện Gio Linh mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 N 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 06/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 N 2024, đối với:
- Bị cáo: Trần Văn N, tên gọi khác: không, sinh ngày 28/11/1985, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn H, xã C, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần N (đã chết) và bà Lê Thị H; vợ Hoàng Thị L, sinh N 1995 và con có 02 người, lớn sinh N 2015, nhỏ sinh N 2019; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã C, huyện G, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Trần Văn S, sinh N: 1991; trú tại: thôn B, xã A, huyện G, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Quá trình sử dụng mạng xã hội (Facebook), Trần Văn N thấy có người đăng bài quảng cáo bán pháo hoa nổ, kèm theo số điện thoại 0912.028.377 để liên hệ khi cần mua. Ngày 28/11/2023, N nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ về đốt trong dịp tết Nguyên đán 2024 nên sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu OPPO A15S gắn kèm thẻ sim số thuê bao 0943.759.444 của mình gọi đến số thuê bao 0912.028.377 gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) thống nhất mua 04 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống/hộp với giá 700.000 đồng/01 hộp, hẹn chiều ngày 29/11/2023 sẽ giao.
Khoảng 17 giờ, ngày 29/11/2023, người đàn ông nói trên gọi điện thoại từ số 0912.028.377 đến số điện thoại của N hẹn giao pháo. N hướng dẫn người đàn ông này đến đoạn đường rẽ vào M thuộc thôn SM, xã A, huyện G, đồng thời N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 74F9- 4781 mượn của anh Trần Văn S (sinh N 1991, trú tại thôn S, xã A, huyện G, là em ruột N) đến địa điểm đã hẹn. Người đàn ông này giao cho N 01 bao ni lông màu đen bên trong chứa 04 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống/hộp, N trả 2.800.000 đồng, rồi để bao ni lông chứa pháo hoa nổ lên phía trước xe mô tô BKS 74F9-4781 điều khiển xe về nhà. Trên đường đi đến địa phận thôn T, xã A, huyện G thì bị Tổ tuần tra Công an xã Gio An phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại bản Kết luận giám định số 1209/KL-KTHS ngày 06/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: “Toàn bộ mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu QT1 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Tổng khối lượng 7,1kg”.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKS-GL ngày 22 tháng 02 N 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh đã truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự (BLHS) xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án 27/3/2024.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ, gồm:
+ 03 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống/hộp, ký hiệu KS4-4911A còn lại sau giám định ( Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Kho vật chứng Công an huyện Gio Linh theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng sau giám định ngày 16/12/2023, biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng sau giám định ngày 29/12/2023 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/12/2023 của Công an huyện Gio Linh).
+ 01 bao nilong màu đen loại có tay xách đã bị rách hư hỏng, được niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu QT2 (vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/02/2024).
+ 01 thẻ sim Vinaphone số thuê bao 0943759444, có dãy số 89840 20001 07071 17990 (vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/02/2024).
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, vỏ nhựa màu xanh, số IMEI 1: 865787058932639, số IMEI 2: 865787058932621, đã qua sử dụng, là phương tiện mà Trần Văn N sử dụng phạm tội (vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/02/2024).
- Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận tội danh như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh đã truy tố là đúng và đồng tình với quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt và trở thành người có ích cho xã hội.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gio Linh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, tang vật vụ án được thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do có nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ về đốt trong dịp tết Nguyên đán 2024 nên ngày 29/11/2023, Trần Văn N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi mua 7,1kg pháo hoa nổ và vận chuyển về nhà để đốt tết. Trên đường vận chuyển đi đến địa phận thôn T, xã A, huyện Gio Linh thì bị Tổ tuần tra Công an xã Gio An phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước trong quản lý pháo nổ, mà còn làm ảnh hưởng trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bất bình trong nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi, bị cáo ý thức được đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó, cần phải xử lý đúng theo quy định của pháp luật mới có tác dụng cải tạo, giáo dục trực tiếp đối với bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
.Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trước cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn rõ ràng, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình là hộ nghèo, là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, các con của bị cáo đang còn nhỏ, nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào tình chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đã nhận định trên: Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, tang số pháo vận chuyển so với khởi điểm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS không quá cao. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng thêm khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS để xử phạt tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình giáo dục trong khoảng từ 06 đến 09 tháng tù thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng như ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, qua đó thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 BLHS về hình phạt bổ sung thì thấy rằng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình là hộ nghèo, là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, các con của bị cáo đang còn nhỏ, nên không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Những vấn đề khác liên quan trong vụ án :
Đối với người đàn ông (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0912.028.377 bán 04 hộp pháo hoa nổ cho N. Quá trình điều tra xác định số điện thoại trên của Công ty Cổ phần G công nghệ thông tin quốc tế (địa chỉ tại tầng 06, tòa nhà Sannam, số 78, phố D, phường V Hậu, quận G, thành phố Hà Nội). Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định Công ty này không hoạt động tại địa chỉ đăng ký và không rõ hoạt động ở đâu nên không có căn cứ xác định người đã bán pháo hoa nổ cho N, khi nào xác định được sẽ xử lý trong một vụ án khác là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Trần Văn S cho N mượn xe mô tô BKS 74F9-4781 nhưng không biết bị cáo sử dụng xe mô tô vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự và đã trả lại xe mô tô cho anh Sáu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số pháo hoa nổ còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ; bao bì bị cáo sử dụng để đựng pháo hoa nổ và thẻ sim bị cáo sử dụng liên lạc với người bán pháo hoa nổ không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, vỏ nhựa màu xanh, số IMEI 1: 865787058932639, số IMEI 2: 865787058932621, đã qua sử dụng, là phương tiện mà Trần Văn N sử dụng phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Bị cáo được áp dụng Điều 65 và hiện đang thực hiện biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú số 07/ 2024/HSST-LCĐKNCT ngày 23/02/2024 đối với bị cáo.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn N 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/3/2024.
Giao bị cáo Trần Văn N cho UBND xã C, huyện G, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu huỷ, gồm:
+ 03 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống/hộp, ký hiệu KS4-4911A còn lại sau giám định ( Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Kho vật chứng Công an huyện Gio Linh theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng sau giám định ngày 16/12/2023, biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng sau giám định ngày 29/12/2023 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/12/2023 của Công an huyện Gio Linh).
+ 01 bao nilong màu đen loại có tay xách đã bị rách hư hỏng, được niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu QT2 (vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/02/2024).
+ 01 thẻ sim Vinaphone số thuê bao 0943759444, có dãy số 89840 20001 07071 17990 (vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/02/2024).
- Tịch thu sung công quỷ nhà nước: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, vỏ nhựa màu xanh, số IMEI 1: 865787058932639, số IMEI 2: 865787058932621, đã qua sử dụng (vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/02/2024).
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Bị cáo Trần Văn N được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/3/2024; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Gio Linh; - Công an huyện Gio Linh; - Chi cục THADS huyện Gio Linh; - Bị cáo; - Người CQLNVLQ; - Thi hành án hình sự; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thanh Tuấn |