vanban.org

Bản án 07/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 22/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc T phạm tội:“Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt: bị cáo Đinh Ngọc T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/3/2024. Giao bị cáo T cho UBND xã Gia Lâm, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo T có trách nhiệm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Ngọc Toại PT tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc T phạm tội:“Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA VIỄN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 07/2024/HS-ST
Ngày 22 tháng 3 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Duy Quyết.

2. Ông Hoàng Quốc Trị.

Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 22/3/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2024/TLST-HS ngày 22/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HS ngày 08/03/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Ngọc T, tên gọi khác: không, sinh năm 1989 tại xã G, huyện Nh, tỉnh N; nơi cư trú: thôn 2, xã G, huyện Nh, tỉnh N; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Ngọc T và bà Nguyễn Thị V; vợ là Trần Thị Th; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tại quyết định số 117 ngày 09/7/2021 của Công an huyện Gia Viễn xử phạt bị cáo T 1.500.000đ về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành nộp phạt ngày 12/7/2021; bị cáo T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1994; nơi cư trú: thôn L, xã X, huyện Nh, tỉnh N (vắng mặt).

- Chị Nguyễn Thị Huyền, sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn L, xã X, huyện Nh, tỉnh N (vắng mặt).

- Anh Chu Văn Thuận, sinh năm 1975; nơi cư trú: thôn X, xã G, huyện Nh, tỉnh N (vắng mặt).

Người làm chứng: anh Trần Hoàng Anh và Nguyễn Anh Tuấn (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/01/2024, Đinh Ngọc T sử dụng tài khoản Facebook của mình là “Dinh Ngoc Toại” để tìm mua pháo nổ và pháo hoa nổ trên mạng xã hội về sử dụng trong dịp tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024. Toại thấy tài khoản Facebook “ong lao” giới thiệu bán pháo hoa nổ nên liên hệ trao đổi hỏi mua pháo nổ qua ứng dụng Messenger. T hỏi mua 06 bệ pháo loại 36 ống với giá tiền 750.000 đồng/bệ, thống nhất tổng giá tiền cả 06 bệ pháo T phải trả là 4.500.000 đồng. Người bán pháo hẹn giao pháo vào 21 giờ ngày 03/01/2024 tại khu vực bờ sông Hoàng Long, thuộc địa phận thôn 3 Kênh Gà, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn. Khoảng 20 giờ ngày 03/01/2024, T điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-050.76 đi từ nhà tại thôn 2 xã G, huyện Nh đến chỗ hẹn. Khi đến khu vực trên, T gặp một nam thanh niên không quen biết ngồi trên xe mô tô (T không nhớ hãng xe và Biển kiểm soát). Xác định đó là người đã hẹn bán pháo cho mình nên T điều khiển xe đến gần đưa cho nam thanh niên số tiền 4.500.000 đồng. Người này nhận tiền rồi chỉ cho T vị trí để pháo cách đó khoảng 100m rồi điều khiển xe mô tô đi. T đi đến vị trí nam thanh niên chỉ, thấy 01 bao tải màu trắng, T mở ra kiểm tra bên trong có 06 bệ pháo hoa nổ có đặc điểm giống nhau, đều có kích thước (14x14x10) cm, được bọc xung quanh bằng giấy bóng có nhiều chữ nước ngoài, in hoa văn nhiều màu sắc trong đó màu chủ đạo là màu xanh, một mặt đáy được bọc giấy màu nâu. T buộc bao tải lại như cũ, bê lên xe mô tô điều khiển đi một đoạn thấy cồng kềnh khó đi nên T gọi điện thoại cho Nguyễn Văn Q, sinh năm 1994, trú tại thôn L, xã X, huyện Nh (Q là em họ của T, làm nghề lái xe tải), T nhờ Q đến khu vực thôn 3 Kênh Gà, xã Gia Thịnh chở ít hàng hóa về nhà. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, Q điều khiển xe ô tô tải Biển kiểm soát 35C-121.39 cùng vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 đến chỗ T đã hẹn. Gặp Q, T bê bao tải chứa 06 bệ pháo hoa nổ đặt lên vị trí sàn để chân bên ghế phụ xe tải rồi nhờ Q và H chở về, còn T điều khiển xe mô tô đi ngay phía sau. Khoảng 21 giờ 55 phút cùng ngày, khi Quý, Huyền và Toại đi đến khu vực cầu phao thuộc thôn 3 Kênh Gà, xã Gia Thịnh thì gặp Tổ công tác Công an huyện Gia Viễn phối hợp với Công an xã Gia Thịnh đang làm nhiệm vụ. Lực lượng Công an đã kiểm tra và phát hiện trên xe ô tô Biển kiểm soát 35C-121.39 có 01 bao tải màu trắng, bên trong chứa 06 bệ pháo hoa nổ. Q và H đều khai nhận là bao tải trên là của T gửi chở giúp. T thành khẩn khai nhận 01 bao tải chứa 06 bệ pháo nổ là của T cất giấu để đốt dịp tết Nguyên đán 2024. Tổ công tác thu giữ và niêm phong 01 bao tải màu trắng chứa 06 bệ pháo hoa nổ có đặc điểm như trên vào 01 thùng bìa catton màu vàng kích thước (38x28x30)cm. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 điện thoại đi dộng nhãn hiệu Oppo A15s vỏ màu xanh đã qua sử dụng, 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-050.76 đã qua sử dụng. Tạm giữ của Quý 01 xe ô tô Biển kiểm soát 35C-121.39, 01 điện thoại đi dộng nhãn hiệu Iphone 12 pro max vỏ màu vàng đã qua sử dụng. Tạm giữ của H 01 điện thoại đi dộng nhãn hiệu Iphone 12 pro max vỏ màu vàng đã qua sử dụng. Sau đó, Công an đưa Đinh Ngọc T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Thị H cùng vật chứng về trụ sở Công an xã Gia Thịnh lập biên bản vụ việc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Viễn tiến hành cân xác định khối lượng 06 bệ pháo hoa nổ thu giữ của Đinh Ngọc T có khối lượng là 6,4 kg, lấy mẫu giám định ký hiệu M để gửi đi xác định khối lượng và giám định vật liệu nổ.

Tại Kết luận giám định số 144/KL-KTHS-ChN ngày 12/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận:

06 khối hình hộp chữ nhật bọc giấy ký hiệu M gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (còn được gọi là pháo hoa nổ) và có tổng khối lượng là 6,338 kg.

Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 06 hộp pháo nổ ký hiệu M còn lại sau giám định có tổng khối lượng còn lại là 5,258 kg.

Tại Bản cáo trạng số 09/CT-VKS-GV ngày 22/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Đinh Ngọc T ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Tàng trữ hàng cấm”, theo điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc T phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại đi dộng nhãn hiệu Oppo A15s vỏ màu xanh đã qua sử dụng, là tài sản của Toại sử dụng vào việc trao đổi mua bán pháo nổ. Tịch thu tiêu hủy 01 thùng bìa catton niêm phong ghi do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình bàn giao, bên trong gồm: 06 hộp pháo nổ ký hiệu M còn lại sau giám định có tổng khối lượng còn lại là 5,258 kg; 01 thùng bìa catton màu vàng kích thước (43x34x45)cm bên trong có 01 vỏ thùng bìa catton kích thước (38x28x30)cm dán giấy niêm phong ban đầu, 01 bao tải màu trắng.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên toà về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội bị cáo thật thà khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời nhận tội của bị cáo Đinh Ngọc T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 144/KL-KTHS-ChN ngày 12/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 55 phút ngày 03/01/2024, tại khu vực cầu phao, thuộc địa phận thôn 3 Kênh Gà, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, Đinh Ngọc T có hành vi cất giấu trái phép 6,338 kilogam pháo nổ, mục đích sử dụng đốt vào dịp tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024, bị phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo Đinh Ngọc T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ pháo hoa nổ là trái phép, là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an trên địa phương.

Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…;

c, Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

…

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, khối lượng pháo nổ mà bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự, do đó hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ hàng cấm”, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng pháo nổ bị cáo đã tàng trữ, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị mức xử phạt đối với bị cáo là phù hợp đối hành vi phạm tội của bị cáo, đủ nghiêm khắc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho bản thân, đồng thời bảo đảm tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, nên không cần thiết cách ly bị cáo T ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, nhưng cho hưởng án treo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ xung: bị cáo T mua pháo nổ với mục đích đốt vào dịp tết nguyên đán 2024, không mang tính chất vụ lợi, mặt khác gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra trong vụ án này anh Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Thị H, có hành vi chở giúp bị cáo Toại 01 bao tải bên trong chứa pháo nổ. Quá trình điều tra xác định anh Q và chị H không biết trong bao tải có chứa pháo nổ. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với anh Q và chị H. Đối với người sử dụng tài khoản mạng xã hội “ong lao” và nam thanh niên giao pháo nổ cho bị cáo T tối ngày 03/01/2024. Theo lời khai của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Viễn đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng không đủ căn cứ để xác định.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 01 xe ô tô Biển kiểm soát 35C-121.39, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Đại Long, có trụ sở tại thôn Minh Long, xã Xích Thổ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Ngày 03/01/2024, Nguyễn Văn Q là nhân viên lái xe của Công ty điều khiển xe ô tô chở Nguyễn Thị H đi giao hàng. Việc bị cáo T nhờ Q chở giúp bao tải chứa pháo nổ, cả Q và H đều không biết bên trong bao tải chứa pháo nổ. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Viễn đã trả lại xe ô tô trên cho Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Đại Long là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-050.76 thu giữ của bị cáo Đinh Ngọc T, quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản của anh Chu Văn Th, sinh năm 1975, trú tại thôn X, xã G, huyện Nh, tỉnh N (anh Th là bạn của T). Ngày 03/01/2024, T sử dụng xe mô tô của anh Th để đi mua pháo nổ, anh Th không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Viễn đã trả lại xe mô tô trên cho anh Th là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với 02 chiếc điện thoại đi dộng nhãn hiệu Iphone 12 pro max vỏ màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Q và H, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Toại. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Viễn đã trả lại 02 chiếc điện thoại trên cho Q và H là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với 01 điện thoại đi dộng nhãn hiệu Oppo A15s vỏ màu xanh đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo T sử dụng vào việc trao đổi mua bán pháo nổ, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 thùng bìa catton niêm phong ghi do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình bàn giao, bên trong gồm: 06 hộp pháo nổ ký hiệu M còn lại sau giám định có tổng khối lượng còn lại là 5,258 kg; 01 thùng bìa catton màu vàng kích thước (43x34x45)cm bên trong có 01 vỏ thùng bìa catton kích thước (38x28x30)cm dán giấy niêm phong ban đầu; 01 bao tải màu trắng. Đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Viễn, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc T phạm tội:“Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt: bị cáo Đinh Ngọc T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/3/2024. Giao bị cáo T cho UBND xã Gia Lâm, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Gia Lâm giám sát giáo dục bị cáo T trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại đi dộng nhãn hiệu Oppo A15s vỏ màu xanh đã qua sử dụng.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 thùng bìa catton niêm phong ghi do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình bàn giao, bên trong gồm: 06 hộp pháo nổ ký hiệu M còn lại sau giám định có tổng khối lượng còn lại là 5,258 kg.

+ 01 thùng bìa catton màu vàng kích thước (43x34x45)cm bên trong có 01 vỏ thùng bìa catton mầu vàng kích thước (38x28x30)cm dán giấy niêm phong ban đầu.

+ 01 bao tải màu trắng.

Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/02/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Viễn.

3. Về án phí: bị cáo Đinh Ngọc T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ