- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2024/HSST Ngày 26 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Triệu
Bà Trang Thị Huỳnh Phương
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Như, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử công khai với hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/HSST, ngày 26 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Văn Q, sinh ngày 17/8/2000; tại: tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: K 2, thị trấn C, huyện C, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn V, sinh năm 1978 và bà Dương Thị Phương H, sinh năm 1981; vợ, con: chưa có; tiền án: Có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 11/2022/HSST ngày 23/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, xử phạt 01 năm 06 tháng tù, Q chấp hành xong bản án ngày 18/4/2023; Tiền sự: Có 02 tiền sự. Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04 ngày 27/12/2021 của Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh và quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 48 ngày 30/8/2023 của Công an xã Đ, huyện C, tỉnh TV. Bị cáo Trần Văn Q bị áp dụng biện pháp bắt tạm giam từ ngày 18/10/2023 cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bị hại: Sơn Sa P, sinh ngày 1973 (có mặt);
Trú tại: ấp TA, xã Đ, huyện C, tỉnh T.
- Người tham gia tố tụng khác:
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Phạm Thị Thiên P – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Người phiên dịch: Nhan S, sinh năm 1964 (có mặt);
Địa chỉ: ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Tr.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22/8/2023, bị cáo Trần Văn Q đang ở nhà thuộc k2, thị trấn C, huyện C, tỉnh T thì có Ngô Văn T, sinh ngày 22/3/2006, nơi cư trú ấp Ba T, xã Đ, huyện C, tỉnh T điều khiển xe mô tô biển số 84H9-3479 chở Kim Ngọc S, sinh ngày 03/10/2007, nơi cư trú k5, ph 8, thành phố T tỉnh T đến chơi. Đến khoảng 00 giờ ngày 23/8/2023, Q hỏi mượn xe của Toàn đi mua thuốc hút thì T đồng ý. Q rủ Sơn đi cùng, sau khi mua thuốc hút xong thì Q điều khiển xe chở S về, trên đường về Q nhớ lại ở ấp T, xã Đ, huyện C có nhà nuôi gà trống đá nên nảy sinh ý định trộm cắp gà. Q điều khiển xe mô tô 84H9-3479 chở S đi đến trước nhà ông Sơn Sa P, sinh năm 1973 thuộc ấp T, xã Đ, huyện C thì dừng xe và kêu S đứng ở ngoài canh chừng còn Q leo rào vào khu vực nhà ông P bắt trộm 03 con gà trống được nhốt trong bội trong trại rơm. Q giấu 03 con gà trống vào trong áo trước bụng rồi leo rào ra ngoài và điều khiển xe chở S về nhà.
Nhìn thấy gà nên T biết Q đi trộm về, sau đó Q tiếp tục lấy xe chở S đi thì T không phản đối. Q điều khiển xe chở S đến nhà ông P, tại đây S đứng chờ ngoài xe còn Q leo rào vào trong tìm gà bắt trộm thì bị ông P và con trai tên Sơn B phát hiện, tri hô bắt giữ được Q còn S điều khiển xe bỏ chạy.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-ĐGTS ngày 05/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành kết luận: 01 con gà trống có lông màu vàng, trắng, đen có trọng lượng 03 kg; 01 con gà trống có lông màu vàng, đỏ, đen có trọng lượng 2,4 kg; 01 con gà trống có lông màu đỏ, đen có trọng lượng 2,2 kg với tổng số tiền 760.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định Kim Ngọc S và Ngô Văn T không có tiền án, tiền sự. Việc Ngô Văn T cho Q mượn xe nhưng không biết Q đi trộm cắp tài sản nên không xem xét xử lý đối với T. Riêng Kim Ngọc S cùng với Q đi trộm cắp tài sản, tuy nhiên quá trình điều tra S không có mặt tại địa phương, không rõ địa chỉ nên Cơ quan điều tra không tiến hành làm việc được, khi nào xác minh làm việc được sẽ xử lý sau.
Đối với Trần Văn Q có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 11/2022/HSST ngày 23/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam. Ngày 18/4/2023, Q chấp hành xong hình phạt tù đến ngày 23/8/2023 chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Về vật chứng: Ngày 23/8/2023 Công an xã Đ đã trao trả cho ông Sơn Sa P: 01 con gà trống có lông màu vàng, trắng, đen có trọng lượng 03 kg; 01 con gà trống có lông màu vàng, đỏ, đen có trọng lượng 2,4 kg; 01 con gà trống có lông màu đỏ, đen có trọng lượng 2,2 kg.
Đối với xe mô tô hai bánh biển số 84H9-3479 do mẹ ruột của Ngô Văn T là bà Thạch Thị Th, sinh năm 1969, nơi cư trú ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh đứng tên chủ sở hữu. Việc T cho Q mượn xe sau đó Q đi trộm cắp tài sản thì bà Th không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã trả lại xe mô tô trên cho bà Th. Trao trả 01 điện thoại di động hiệu MASSTEL cho Trần Văn Q, 01 điện thoại di động hiệu OPPO cho Ngô Văn T.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Sơn Sa P đã nhận lại 03 con gà, có 01 con gà đã chết nhưng không yêu cầu bị cáo Q bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS.HS ngày 25/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích đưa ra các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Q mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù. Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Vật chứng đã trao trả cho chủ sở hữu, bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đối với vị Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh bà Phạm Thị Thiên H - phát biểu quan điểm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày như sau: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng, bị cáo không ăn năn hối cải vì vừa chấp hành xong hình phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, mới ra tù đã tiếp tục trộm cắp tài sản. Vì vậy, đề nghị hội đồng xét xử chỉ áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự xử lý nghiêm minh hành vi của bị cáo Q để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị hại không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự.
Tại phiên Tòa hôm nay bị cáo Trần Văn Q thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản và lời nói sau cùng của bị cáo Trần Văn Q là bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và người bị hại không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay lời khai của bị cáo Trần Văn Q phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan Điều tra, lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm phạm tội, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận vào khoảng 01 giờ ngày 23/8/2023, tại nhà ông Sơn Sa P thuộc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh, lợi dụng lúc đêm tối, mọi người ngủ say Trần Văn Q đã lén lút lấy trộm 03 con gà trống của ông Sơn Sa P kết quả định giá là 760.000 đồng. Số tiền trộm của bị cáo Trần Văn Q chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng về nhân thân Trần Văn Q có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và“Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” chưa được xóa án tích. Đây là tình tiết định tội nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, bị cáo Trần Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Xét tính chất, mức độ của vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo Trần Văn Q là thanh niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ sức khỏe lao động tạo nguồn thu nhập chân chính cho bản thân như bao thanh niên khác trong xã hội nhưng không chăm chỉ lao động mà muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo Trần Văn Q lợi dụng đêm khuya, mọi người đã ngủ say, đã lén lút trộm 03 con gà của bị hại Sơn Sa P với giá trị 760.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Q là cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân: Khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cũng cần xem xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn Q tỏ thái độ thành khẩn khai báo và đã ăn năn hối cải, gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự như quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát.
[5] Trách nhiệm dân sự: Bị hại Sơn Sa P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Vật chứng: Đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Sơn Sa P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSH. Châu Thành; - Bị cáo và các đ/s; - Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Thu Trang |