- Tranh chấp gì? án hình sự — "MAI TUẤN ĐẠT - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo MTD 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt 16 tháng 6 năm 2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH Bản án số: 07/2024/HS-ST Ngày: 17- 01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tuất
Bà Nguyễn Thị Thu Huyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Xuân Thiện- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh KH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 153/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
MTD; Sinh ngày 02/9/1981 tại tỉnh KH; Nơi thường trú và cư trú: Tổ 18, TB, phường VH, thành phố NT, tỉnh KH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: MXH (Chết) và bà: NTH- Sinh năm: 1955; Có vợ: DTD- Sinh năm: 1984; Con: 01 người con, sinh năm 2006.
Tiền án: Ngày 04/6/2019, Tòa án nhân dân tỉnh KH xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 24). Chấp hành xong ngày 06/5/2022.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/7/2000, Tòa án nhân dân tỉnh KH xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. (Bản án số 63). Chấp hành xong ngày 03/12/2000.
Ngày 14/9/2009, Tòa án nhân dân thành phố NT, tỉnh KH xử phạt 06 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 254). Chấp hành xong ngày 23/9/2014.
Ngày 06/4/2015, bị Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh KH xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (Quyết định số 98).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh KH. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông AD, sinh năm 1999; Quốc tịch: Ấn Độ;
Địa chỉ: A, NP, K, Ko: 690518, Kla, ID.
Chỗ ở: Phòng 1632, Khách sạn M- Số 03-05 PVD, phường VP, thành phố NT, tỉnh KH. (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
1. Ông NLB, sinh năm 2000;
Địa chỉ: 913 đường Y, phường VP, thành phố NT, tỉnh KH.
2. Ông BNH, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Tổ 20 TP, phường VP, thành phố NT, tỉnh KH.
3. Ông Ha, sinh năm 2000; Quốc tịch : A;
Địa chỉ: M H, Ao, U K, Er P: 686692 Ka, Ia.
Chỗ ở: Phòng 1632, Khách sạn M Số 03-05 PVD, phường VP, thành phố NT, tỉnh KH.
(Đều vắng mặt)
- Người phiên dịch:
Bà TTU, Địa chỉ: Công ty tư vấn và dịch thuật Sunday – Số 35/2 MAT, phường VP, thành phố NT, tỉnh KH. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 16/6/2023, MTD điều khiển xe mô tô gần BKS: 78F1 - 573.18 đi trên đường dành cho người đi bộ sát bãi biển thuộc Công viên bờ biển PVD, thành phố NT để quan sát xem có ai sơ hở thì cướp giật tài sản. Khi đến đối diện số 108 đường PVD, phường VH, thành phố NT, tỉnh KH thì phát hiện anh AD (sinh năm 1999) quốc tịch Ấn Độ đang ngồi trên ghế đá cầm điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh đen để sử dụng. Đ dựng xe mô tô cách đó khoảng 10 mét, đi bộ đến gần chỗ anh AD đang ngồi rồi bất ngờ dùng tay giật chiếc điện thoại Iphone 13 và bỏ chạy về hướng để xe mô tô. Anh AD và bạn là HD tri hô, đuổi theo nên Đ vứt lại chiếc điện thoại rồi lên xe mô tô nổ máy chạy được khoảng 2 – 3 mét thì tự té ngã nên bị anh AD, anh HD và một số người dân bắt giữ người cùng điện thoại Iphone 13, giao cho Công an phường VH lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, xe mô tô gắn BKS 78F1 – 573.18 vẫn để lại hiện trường (Bút lục số: 22,23).
Sau khi lập biên bản, Công an phường VH tiến hành xác định địa điểm và truy tìm vật chứng xe mô tô gắn BKS 78F1 – 573.18 nhưng không phát hiện nên không thu giữ được (Bút lục số 26).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 248/KL-HDĐGTS ngày 19/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố NT kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 dung lượng 128GB mua năm 2022, tại thời điểm định giá tháng 6 năm 2023 có giá trị là 11.800.800 đồng (mười một triệu tám trăm nghìn tám trăm đồng)
Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh dung lượng 128G của ông AD (đang tạm giữ).
Về phần dân sự: Người bị hại ông AD đã xuất cảnh ngày 18/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh KH đã Ủy thác tương trợ tư pháp về hình sự cho Bộ Nội vụ Ấn Độ về yêu cầu dân sự nhưng chưa có kết quả.
Xe mô tô nhãn hiệu Vision mà Đạt sử dụng gắn BKS 78F1 – 573.18, qua xác minh, xác định xe mô tô BKS 78F1 – 573.18 là loại xe SH125I màu đỏ do chị T, trú tại BT, STD, TH, PY là chủ sở hữu và đang sử dụng. Đối với việc không tìm thấy xe mô tô nhãn hiệu Vision mà Đ sử dụng, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xem xét xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 126/CT-VKSKH-P1 ngày 21//11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH truy tố bị cáo MTD về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo MTD đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo đề nghị xử phạt bị cáo MTD từ 02 năm 06 tháng – 03 năm tù.
Vật chứng vụ án: Đề nghị đã trả lại cho bị hại; Trách nhiệm dân sự: Bị hại vắng mặt nên tách thành vụ án khác khi có yêu cầu.
Tại phiên tòa, bị cáo MTD thừa nhận hành vi phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra truy tố xét xử; Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 16/6/2023, tại công viên bờ biển đối diện 108 đường PVD, phường VH, thành phố NT, tỉnh KH, MTD cướp giật 01 điện thoại hiệu Iphone 13 màu xanh đen, dung lượng 128GB của ông AD (Quốc tịch Ấn Độ) trị giá 11.800.800 đồng.
Như vậy, Cáo trạng số 122 /CT-VKSKH-P1 ngày 13 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH đã truy tố bị cáo MTD về tội:“Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, bị cáo đã nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và tẩu thoát. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là một trong những khách thể được luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở địa phương, gây hoang mang lo lắng trong cộng đồng dân cư đặc biệt ảnh hưởng tâm lý cho các du khách đến du lịch tại địa phương. Bị cáo phạm tội chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội mới do cố ý. Bản thân bị cáo đã từng bị các Tòa án xét xử hình sự và Công an tỉnh KH xử phạt hành chính. Do đó, cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người công dân tốt.
[3] Về vật chứng vụ án: Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 12 năm 2023 giữa Công an tỉnh KH và Cục thi hành án dân sự tỉnh KH, vật chứng vụ án gồm:
01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh dung lượng 128G của ông AD. Xét đây là tài sản bị cáo chiếm đoạt của ông AD nên trả lại cho bị hại.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông AD vắng mặt tại phiên tòa nên tách thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.
[5] Về án phí: Bị cáo MTD phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 171; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tung hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 đối với bị cáo MTD.
1. Xử phạt: Bị cáo MTD 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt 16 tháng 6 năm 2023.
2. Về vật chứng vụ án:
Trả lại cho bị hại ông AD 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh dung lượng 128G theo Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 12 năm 2023 giữa Công an tỉnh KH và Cục thi hành án dân sự tỉnh KH.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông AD vắng mặt tại phiên tòa, tách thành vụ kiện khác khi có yêu cầu
4. Về án phí: Bị cáo MTD phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo MTD được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại DNxét xử phúc thẩm.
Người bị hại ông AD vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại DN xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Vụ I - GĐKT TANDTC; - TAND cấp cao tại DN; - VKSND cấp cao tại DN; - VKSND tỉnh KH; - CQ CSĐT Công an tỉnh KH; - Trại tạm giam, CQ THAHS, Phòng NVHS Công an tỉnh KH; - Cục THADS tỉnh KH; - Sở tư pháp tỉnh KH; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Xuân Oanh |