- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Mỹ Hoàng - Tham ô - phạm tội tham ô tài sản (điều 353 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Buộc ông Hà Hoàng H2 phải hoàn trả lại số tiền 14.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Hình sự HĐXX
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2024/HS-ST Ngày 28 tháng 02 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Linh
Thẩm phán: Nguyễn Phước Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Nguyễn Duy Linh , ông Lương Văn Tâm và ông Nguyễn An Hữu.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Dự - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Hải Cảng và bà Nguyễn Hoàng Anh T - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại tr s T a án nhân dân tỉnh An Giang, t ử sơ thẩm công khai phần trách nhiệm dân sự v án hình sự th lý số: 56/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa v án ra t ử sơ thẩm số: 66/2023/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên t a số 21/2023/QĐ-ST ngày 17/11/2023, Quyết định hoãn phiên t a số 23/2023/QĐ-ST ngày 15/12/2023 và Quyết định hoãn phiên t a số 01/2024/QĐ-ST ngày 15/01/2024; Thông báo m lại phiên t a số 18/2024/TB-TA ngày 05/02/2024 đối với:
Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 01/8/1981 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số F ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp khi phạm tội: Nguyên thủ kho kiêm thủ quỹ B; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Lê Thị Mỹ L; chồng là ông Ngô Chánh N và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị b t tạm giam t ngày 21/12/2016 Nguyễn Thị Mỹ H1 có mặt tại phiên t a).
Bị hại: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ; tr s : T, C H, đường L, quận H, Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng K, sinh năm 1983; địa chỉ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ, tháp BIDV số B T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội và bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1975 – Giám đốc Ph ng giao dịch ngân hàng B tại huyện C; địa chỉ: B Quốc lộ I, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hà Hoàng H2, sinh năm 1974; nơi cư trú: số C đường C, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang v ng mặt và có đơn đề nghị ử v ng mặt).
Trong v án c n có 09 bị án, bị kết án về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” cùng một số người có quyền lợi nghĩa v liên quan khác nhưng đã được em t giải quyết bằng Bản án có hiệu lực pháp luật.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án Hình sự phúc thẩm số 75/2022/HS-PT ngày 25/01/2022 của T a án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, nội dung v án được tóm t t như sau:
Nguyễn Thị Mỹ H là thủ quỹ kiêm thủ kho của Ph ng G trực thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ, Chi nhánh L1 viết t t là Ngân hàng B). Để có tiền trả nợ ông Hà Hoàng H2 và tiêu ài cá nhân, t tháng 02/2014 đến ngày 18/11/2016, lợi d ng sự quản lý lỏng lẻo, thiếu kiểm tra, giám sát của lãnh đạo, các ph ng và tổ chuyên môn, H đã chiếm đoạt tiền của B Cái Dầu là 26.120.000.000 đồng, bằng cách mượn thẻ tiết kiệm có kỳ hạn của các khách hàng để làm thủ t c vay tiền, giả chữ ký, chữ viết của khách hàng hoặc l a dối khách hàng ký khống vào hồ sơ tín d ng. Sau khi chiếm đoạt, H khai đã trả nợ cho ông H2 số tiền là 25.764.989.000 đồng, bằng hình thức trả tiền mặt và chuyển khoản, trong đó chuyển khoản là 14.714.839.000 đồng. Ngày 25/11/2016, H c n lấy 2.500.000.000 đồng tiền quỹ của B Cái Dầu do H quản lý trả cho bà Nguyễn Huỳnh Nhựt M. Tổng số tiền H chiếm đoạt của Ngân hàng B Cái Dầu là 28.620.000.000 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Thị Mỹ H c n có hành vi l a đảo chiếm đoạt của ông Huỳnh Trung V số tiền 7.300.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HSST ngày 25/5/2020, T a án nhân dân tỉnh An Giang ử phạt Nguyễn Thị Mỹ H 20 năm tù về tội “Tham ô tài sản”, 14 năm tù về tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản". Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 30 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H có trách nhiệm trả số tiền 28.620.000.000 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B). Trong đó, bà Nguyễn Huỳnh Nhựt M trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H 2.500.000.000 đồng để bị cáo trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền này nằm trong số tiền 28.620.000.000 đồng).
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 75/2022/HSPT ngày 25/01/2022, T a án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H và bà Nguyễn Huỳnh Nhựt M có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) số tiền 28.620.000.000 đồng. Trong đó, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H phải trả 26.120.000.000 đồng và bà Nguyễn Huỳnh Nhựt M phải trả 2.500.000.000 đồng.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 06/QĐ-VKSTC-V7 ngày 14/8/2023, Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị một phần Bản án hình sự phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán T a án nhân dân tối cao t ử theo thủ t c giám đốc thẩm, hủy phần trách nhiệm dân sự của Bản án hình sự phúc thẩm số 75/2022/HSPT ngày 25/01/2022 của T a án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HSST ngày 25/5/2020 của T a án nhân dân tỉnh An Giang để t ử sơ thẩm lại theo hướng buộc ông Hà Hoàng H2 có trách nhiệm trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 14.714.839.000 đồng.
Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 13/2023/HS-GĐT ngày 14 tháng 9 năm 2023 của T a án nhân dân tối cao đã quyết định:
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 06/QĐ-VKSTC-V7 ngày 14/8/2023 của Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Hủy một phần trách nhiệm dân sự tại Bản án hình sự phúc thẩm số 75/2022/HSPT ngày 25/01/2022 của T a án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và một phần trách nhiệm dân sự tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HSST ngày 25/5/2020 của T a án nhân dân tỉnh An Giang.
3. Chuyển hồ sơ v án cho T a án nhân dân tỉnh An Giang để t ử sơ thẩm lại theo thủ t c chung.
Tại phiên t a, Nguyễn Thị Mỹ H vẫn khai số tiền chiếm đoạt trên, có một phần H dùng để thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi cho ông Hà Hoàng H2; việc trả nợ được thực hiện bằng hình thức đưa tiền mặt và chuyển khoản. H đã chuyển khoản trả cho ông H2 với tổng số tiền là 14.714.839.000 đồng qua số tài khoản của bà Tăng Yến P là vợ ông H2) và Hồ Thùy T2 là bạn của ông H2); Số tiền c n lại, H khai trả cho ông H2 bằng tiền mặt.
Bị hại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) trình bày: quá trình thi hành án, Nguyễn Thị Mỹ H đã bồi thường được 309.312.563 đồng, Nguyễn Huỳnh Nhựt M đã thi hành án nộp trả 2.500.000.000đồng cho Ngân hàng. Nay c n thiệt hại 25.810.687.437 đồng, bị hại yêu cầu buộc Hà Hoàng H2 có trách nhiệm trả lại số tiền 14.714.839.000 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B), c n lại 11.095.848.437đồng buộc Nguyễn Thị Mỹ H bồi thường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị HĐXX buộc Hà Hoàng H2 có trách nhiệm nộp trả lại số tiền 14.714.839.000 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B), buộc Nguyễn Thị Mỹ H bồi thường cho B số tiền 11.095.848.437đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên t a, Hội đồng t ử nhận định như sau:
Về thủ t c tố t ng: Tại phiên t a người có quyền lợi nghĩa v liên quan v ng mặt nhưng có đơn đề nghị ử v ng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Hình sự HĐXX vẫn tiến hành t ử v án.
Về nội dung phần trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị Mỹ H đã phạm tội “Tham ô tài sản”, c thể tham ô tổng số tiền là 28.620.000.000 đồng của Ngân hàng B Cái Dầu để tiêu ài cá nhân và trả nợ. Trong đó trả nợ cho ông Hà Hoàng H2 bằng hình thức chuyển khoản với tổng số tiền là 14.714.839.000 đồng qua số tài khoản của bà Tăng Yến P là vợ ông H2) và Hồ Thùy T2 là bạn của ông H2) điều này đã được chứng minh b i lời khai của ông Hà Hoàng H2 tại giai đoạn điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã ác minh tại ngân hàng. Như vậy, số tiền 14.714.839.000 đồng mà Nguyễn Thị Mỹ H chuyển khoản trả cho ông Hà Hoàng H2 là tiền do H phạm tội mà có.
Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, cần buộc ông Hà Hoàng H2 nộp lại số tiền 14.714.839.000 đồng để trả lại cho chủ s hữu là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
Ngoài ra Mỹ H c n dùng tiền tham ô trả nợ cho bà Nguyễn Huỳnh Nhựt M 2.500.000.000 đồng. Bản án hình sự phúc thẩm số 75/2022/HSPT ngày 25/01/2022, T a án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định buộc bà Nguyễn Huỳnh Nhựt M có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) số tiền số tiền 2.500.000.000 đồng, bà M đã thực hiện ong.
Nguyễn Thị Mỹ H đã nộp bồi thường được 309.312.563 đồng.
Thiệt hại c n lại là 11.095.848.437đồng 28.620.000.000 đồng - 14.714.839.000 đồng - 2.500.000.000 đồng - 309.312.563 đồng), cần buộc Nguyễn Thị Mỹ H bồi thường.
Về án phí: X t thấy, hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H thực sự khó khăn lại phải có trách nhiệm bồi thường lớn cho bị hại nên Hội đồng t ử miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, điểm 2 Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584 Bộ luật Dân sự.
Buộc ông Hà Hoàng H2 phải hoàn trả lại số tiền 14.714.839.000đ mười bốn tỷ bảy trăm mười bốn triệu tám trăm ba mươi chín nghìn đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
Buộc Nguyễn Thị Mỹ H phải có trách nhiệm bồi thường cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 11.095.848.437đ mười một tỷ không trăm chín mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn bốn trăm ba mươi bảy đồng).
Kể t ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội về án phí, lệ phí T a án:
Võ Thị Mỹ H3 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nguyễn Thị Mỹ H và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án.
Ông Hà Hoàng H2 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - T a án nhân dân tối cao; - S Tư pháp tỉnh An Giang; - Viện kiểm sát tỉnh An Giang; - Công an tỉnh An Giang; - Trại giam Định Thành - BCA; - C c thi hành án dân sự tỉnh An Giang; - Thi hành án hình sự; - Những người tham gia tố t ng; - Lưu: Hồ sơ v án, T a Hình sự, Văn ph ng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Ngọc Linh |