vanban.org

Bản án 07/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ Tuyên án 30/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/9/2023. Hình phạt bổ sung: Không. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHA
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HS-ST
Ngày: 30-01-2024

NHA DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHA DA QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Hương;

- Các Hội thẩm nhA dA: Ông Huỳnh Văn Nhân;

Bà Trần Vĩnh Hạnh;

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Vũ L - Thư ký Tòa án nhA dA quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhA dA quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhA dA quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/HSST ngày 02/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 19/01/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Phú T, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: phường 4, quận 8, thành phố H; Nơi ở hiện tại: khu vực T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ;

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; DA tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Không; Bị cáo là con của ông Nguyễn Phú C (đã chết), sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thanh P, sinh năm 1967; Sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Thanh Thảo, sinh năm 1996, có 01 người con sinh năm 2013; Sống chung như vợ chồng với Hoàng Thị Thanh NhA, sinh năm 1995, có 01 người con sinh năm 2014; Hiện tại đang sống chung như vợ chồng với Kiều Ngọc G, sinh năm 1997 (là bị cáo trong vụ án); Tiền án, 01 lần, ngày 17/6/2014, bị Toà án nhA dA quận 8, thành phố Hồ Chí Minh xử tổng hợp hình phạt 14 năm tù giam về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 118/2014/HSST ngày 17/6/2014 và Bản án số 82/2014/HSST ngày 16/4/2013. Chấp hành xong ngày 18/01/2023; Tiền sự: Không; NhA thA của bị cáo: Ngày 16/4/2013 bị Chủ tịch Ủy ban nhA dA phường 4, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, thời hạn 03 tháng theo Quyết định số 80/QĐ-UBND ngày 16/4/2013.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thái A, sinh năm 1996 tại Trà Vinh; Nơi cư trú: thị xã D, tỉnh T; Nơi ở hiện tại: khu vực T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Không; Bị cáo là con của ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1973; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án 01 lần, ngày 29/11/2012, bị Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử phạt 15 năm tù về tội “ Giết người” và “ Cướp tài sản” theo Bản án số 41/2012/HSST, chấp hành xong ngày 28/4/2022; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ; Bị cáo có mặt tại phiên tòa

3. Kiều Ngọc G, sinh năm 1997 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi Cư trú: phường 2, quận 4, thành phố H; Nơi ở hiện tại: khu vực T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Không; Bị cáo là con của ông Huỳnh Thanh G (đã chết) và bà Kiều Đỗ Phương T, sinh năm 1970; Sống chung như vợ chồng với Dương Ngọc L, sinh năm 1991, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2019; Hiện tại đang sống chung như vợ chồng với Nguyễn Phú T (bị can cùng vụ án); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt.

4. Bị hại:

- Ông Trương Thanh T, sinh năm 1995;

- Bà Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1991;

- Ông Trần Vũ L, sinh năm 1991;

Cùng địa chỉ: Số 194/56A Cách mạng tháng tám, phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 26/9/2023, qua công tác tuần tra, lực lượng Cảnh sát hình sự Công an quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ phát hiện ba đối tượng điều khiển 03 xe mô tô di chuyển trên đường Cách Mạng Tháng Tám theo hướng từ quận Bình Thủy về hướng quận Thốt Nốt. Ba đối tượng có dấu hiệu nghi vấn trộm cắp tài sản nên lực lượng tiến hành theo dõi các đối tượng từ quận Bình Thủy về nơi ở tại địa chỉ số: Phòng trọ số 4, nhà trọ Bình Xuyên, khu vực Thới An 3, phường Thuận An, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Đến 08 giờ 00 phút ngày 26/9/2023 chị Nguyễn Thị Thúy N đang thuê Nhà trọ Thơm, địa chỉ số 194/56A, đường Cách Mạng Tháng Tám, phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ đến Công an phường Bùi Hữu Nghĩa trình báo bị mất trộm một xe mô tô hiệu Honda loại Future FI, màu đỏ đen, số khung: 7634JZ105756, số máy: JC76E0452445, gắn biển số 66M1-487.94 để trong nhà trọ Thơm. Nhận thấy xe mô tô của bà N bị mất trộm có đặc điểm giống chiếc xe các đối tượng điều khiển nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thủy tiến hành mời các đối tượng làm việc và khám xét nơi ở của các đối đối tượng: Nguyễn Phú T, Nguyễn Thái A, Kiều Ngọc G và tiến hành mời những người có liên quan về Cơ quan Công an xác minh làm rõ.

Qua điều tra, đã xác định được như sau: Nguyễn Phú T, Nguyễn Thái A và Kiều Ngọc G cùng thuê Phòng trọ số 4, nhà trọ Bình Xuyên, khu vực Thới An 3, phường Thuận An, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Do không có tiền để trả tiền nhà Trọ nên T rủ A đi tìm tài sản là xe mô tô để lấy trộm thì A đồng ý. Trước khi đi, T rủ thêm G (sống như vợ chồng với T) cùng đi. Vào khoảng 21 đến 22 giờ ngày 25/9/2023 Nguyễn Phú T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda loại LEAD, màu trắng, biển số 65E1-064.26 chở Nguyễn Thái A và Kiều Ngọc G ngồi phía sau đi từ nhà trọ thuộc khu vực Thới An 3, phường Thuận An, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đến hẻm 180 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ để tìm bạn tên Lập uống cà phê. Khi đến đầu hẻm 180, đường Cách Mạng Tháng 8, phường Bùi Hữu Nghĩa thì T dừng xe lại kêu A và G đợi bên ngoài, T đi bộ vào bên trong hẻm để tìm Lập nhưng không thấy. Sau đó T quay ra vị trí A và G đang đợi tại vị trí ghế đá đầu hẻm 180 đường Cách Mạng Tháng Tám, lúc này do không có tiền tiêu xài nên T bàn bạc với A và G đi tìm xe mô tô để lấy trộm, A đồng ý, ban đầu G không đồng ý nhưng vì cần tiền tiêu xài nên G đồng ý đi cùng với T và A để lấy trộm tài sản. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 26/9/2023 thì T, A, G bắt đầu đi vào trong hẻm, khi T, A, G đến cách vị trí lấy trộm khoảng 15 mét thì T kêu A và G ngồi đợi, T mở cóp xe biển số 65E1-064.26 lấy 01 cây kìm bấm bằng kim loại màu trắng đi đến khu nhà trọ tại địa chỉ số 194/65A đường Cách Mạng Tháng 8, phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thuỷ. Lúc này T bẻ khoen cửa rào, đi vào bên trong khuôn viên nhà trọ lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Fi màu đỏ, biển số: 66M1-487.94 của chị Nguyễn Thị Thúy N dẫn ra ngoài đường hẻm phía trước nhà trọ đến gần vị trí của A đang đợi, dùng tay ngoắc ra hiệu cho A đến dẫn xe trộm được, khi nhận được tín hiệu của T thì A đến vị trí chiếc xe T vừa lấy trộm, T dùng đoản đã chuẩn bị sẵn từ trước bẻ khóa xe xong kêu A dẫn xe ra ngoài chỗ vị trí G đang ngồi đợi. T tiếp tục quay vào bên trong khuôn viên nhà trọ tiếp tục lấy trộm một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X màu xám, biển số: 95H1-534.22 của anh Trương Thanh T dẫn ra ngoài đường hẻm bẻ khóa và điều khiển xe vừa trộm được đến vị trí của A và G ngồi đợi. Tại đây, T phA công nhiệm vụ cho A điều khiển xe Honda Furter f1 màu đỏ, biển số: 95H1-534.22, G điều khiển xe Honda loại LEAD, màu trắng, biển số 65E1-064.26 là phương tiện ban đầu, còn T thì điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X màu xám, biển số 95H1-534.22, T, A và G điều khiển xe về phòng trọ do T thuê để cất giữ để bán lấy tiền tiêu xài cá nhA thì bị phát hiện.

Tang vật thu giữ:

- 01 xe mô tô hiệu Honda loại Winner X, màu bạc đỏ đen, số khung: 3709KY025782, số máy: KC34E1053602, gắn biển số 95H1-534.22 xe của ông Trương Thanh T bị mất trộm;

- 01 xe mô tô hiệu Honda loại Future FI, màu đỏ đen, số khung: 7634JZ105756, số máy: JC76E0452445, gắn biển số 66M1-487.94 xe của bà Nguyễn Thị Thúy N, ông Trần Vũ L bị mất trộm;

- 01 xe mô tô hiệu Honda loại LEAD, màu trắng, số khung: LWBTDH10271036880, số máy: WH150MH07K02049, gắn biển số 65E1-064.26 xe phương tiện dùng để thực hiện hành vi trộm cắp của T, A, Như.

- 01 cục hình chữ nhật màu đen, kèm theo cục sạc (T khai dùng để phá sóng định vị xe);

- 02 đoản bằng kim loại màu trắng;

- 01 cục khóa từ bằng kim loại màu vàng;

- 01 điếu bằng kim loại màu trắng hình chữ L;

- 01 cây kìm bấm kim loại màu trắng, trên thA kìm có dòng chữ Konda-Pro;

- 01 điện thoại di động không rõ nhãn hiệu, không có bàn phím và vỏ bên ngoài số Imei: 810221600630414 có một sim không rõ số thuê bao;

- 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón có chữ “nón sơn”;

- 01 nón bảo hiểm màu trắng sữa loại nón lưỡi trai trên nón có chữ LV;

- 01 áo khoác tay dài màu đen loại có mũ trùm đầu trên áo có số 336 và chữ balance;

- 01 áo sơ mi dài tay sọc ka rô đen trắng đỏ;

- 01 áo khoác dài tay màu xanh đen;

- 01 nón kết vải màu xám trên nón có chữ Gucci;

- 01 áo sơ mi tay dài màu trắng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 36 ngày 03/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Uỷ ban nhA dA quận Bình Thuỷ kết luận: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, loại WINERX, màu bạc đỏ đen, biển số 95H1-53422 (Đã qua sử dụng) trị giá 22.500.000 đồng; 01 xe mô tô hai bánh hiệu Honda loại Furture F1 màu đỏ đen, biển số 66M1- 48794 (Đã qua sử dụng) trị giá 20.000.000 đồng. Tổng giá trị của hai xe mô tô là 42.500.000 đồng.

Ngày 17/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thuỷ đã tiến hành xử lý vật chứng, trả xe mô tô nhãn hiệu Honda loại FUTURE FI; số khung: 734JZ105756; số máy: JC76E0452445; màu sơn: Đỏ đen; Biển số: 66M1-487.94 đã trả lại cho ông Trần Vũ L (là chồng của chị N), xe mô tô nhãn hiệu Honda loại WINNERX; số khung: 3709KY025782; số máy: KC34E1053602; Màu sơn: Bạc đỏ đen; Biển số: 95H1-534.22 trả lại cho anh Trương Thanh T.

Đối xe mô tô biển kiểm soát 65E1-064.26, T khai mua trên trang mạng xã hội của một người đàn ông không rõ họ tên địa chỉ. Do sự việc mất trộm xe mô tô biển kiểm soát 65E1-064.26 xảy ra trên địa bàn quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Ngày 14/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thủy có văn bản trao đổi cùng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt để phối hợp điều tra làm rõ vụ việc trên. Ngày 21 tháng 12 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thủy đã chuyển 01 chiếc xe mô tô Honda loại SCR110, màu trắng, số khung: LWBTDH10271036880, số máy: WH150MH07K02049, biển kiểm soát 65E1-064.26 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Tại Bản Cáo trạng số 04/CT-VKSBT ngày 22/12/2023 của Viện kiểm sát nhA dA quận Bình Thuỷ đã truy tố các bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhA dA quận Bình Thủy vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo Cáo trạng. Đồng thời phA tích hành vi phạm tội của các bị cáo, đề nghị xem xét nhA thA, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Phú T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Nguyễn Thái A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và Kiều Ngọc G từ 06 tháng đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các phương tiện, công cụ phạm tội và những tài sản cá nhA của các bị cáo không yêu cầu nhận lại gồm 01 cục hình chữ nhật màu đen, kèm theo cục sạc; 02 đoản bằng kim loại màu trắng; 01 cục khóa từ bằng kim loại màu vàng; 01 điếu bằng kim loại màu trắng hình chữ L; 01 cây kìm bấm kim loại màu trắng, trên thA kìm có dòng chữ Konda-Pro; 01 điện thoại di động không rõ nhãn hiệu, không có bàn phím và vỏ bên ngoài số Imei: 810221600630414 có một sim không rõ số thuê bao; 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón có chữ “nón sơn”; 01 nón bảo hiểm màu trắng sữa loại nón lưỡi trai trên nón có chữ LV; 01 áo khoác tay dài màu đen loại có mũ trùm đầu trên áo có số 336 và chữ balance; 01 áo sơ mi dài tay sọc ka rô đen trắng đỏ; 01 áo khoác dài tay màu xanh đen; 01 nón kết vải màu xám trên nón có chữ Gucci; 01 áo sơ mi tay dài màu trắng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, ban hành quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thủy, Viện kiểm sát nhA dA quận Bình Thủy, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với bị cáo G có đơn xin xét xử vắng mặt và bị hại vắng mặt tại phiên tòa: Căn cứ vào Điểm c Khoản 2 Điều 290, Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị cáo và đương sự.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 26/9/2023 các bị cáo T, A và G có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của các bị hại. Tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Fi màu đỏ, biển số: 66M1-487.94 của chị Nguyễn Thị Thúy N, anh Trần Vũ L và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X màu xám, biển số: 95H1-534.22 của anh Trương Thanh T. Tổng giá trị tài sản là 42.500.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhA dA quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Phú T: Là người chủ mưu, đề xướng, rủ rê các bị cáo A, G trộm cắp tài sản của các bị hại và bị cáo cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội từ việc chuẩn bị các công cụ phạm tội, thực hiện bẻ khóa cổng rào, bẻ khóa xe để trộm tài sản.

Bị cáo Nguyễn Thái A: Có vai trò là người giúp sức cho bị cáo T trong việc giúp bị cáo T điều khiển xe trộm được, tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội và đem cất giấu tài sản.

Bị cáo Kiều Ngọc G: Có vai trò là người giúp sức cho bị cáo T trong việc điều khiển xe dùng làm phương tiện để trộm cắp tài sản.

Ny nhà trọ của các bị cáo tại nhà trọ Bình Xuyên, khu vực Thới An 3, phường thuận An, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ thì các bị cáo đã cùng nảy sinh việc trộm cắp tài sản của người khác. Đến khi bị cáo T đề xướng, bàn bạc việc trộm xe của người khác, mặc dù hai bị cáo A, G không trả lời rõ ràng có đồng ý hay không nhưng xét hành vi của hai bị cáo thì đã thể hiện rõ việc thống nhất với bị cáo T. Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm, tuy nhiên mức độ cấu kết không chặt chẽ nên xác định đồng phạm giản đơn. Mức độ phạm tội của bị cáo T là nặng nhất, đến bị cáo A, G. Các bị cáo là người thành niên, có sức khỏe nhưng không lao động chA chính để tạo thu nhập mà lại lấy trộm tài sản của người khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dA nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

Về nhA thA, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo T, A có nhA thA xấu. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hai bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cãi nên Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo T, A có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo G có nhA thA tốt. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hai bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cãi và bị cáo G phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo G tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo G không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về trách nhiệm dA sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dA sự. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy các công cụ mà các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội gồm: 01 cục hình chữ nhật màu đen, kèm theo cục sạc; 02 đoản bằng kim loại màu trắng; 01 cục khóa từ bằng kim loại màu vàng; 01 điếu bằng kim loại màu trắng hình chữ L; 01 cây kìm bấm kim loại màu trắng, trên thA kìm có dòng chữ Konda-Pro.

Tại phiên tòa các bị cáo không có yêu cầu nhận lại các tài sản cá nhA nên các tài sản này không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy gồm: 01 điện thoại di động không rõ nhãn hiệu, không có bàn phím và vỏ bên ngoài số Imei: 810221600630414 có một sim không rõ số thuê bao; 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón có chữ “nón sơn”; 01 nón bảo hiểm màu trắng sữa loại nón lưỡi trai trên nón có chữ LV; 01 áo khoác tay dài màu đen loại có mũ trùm đầu trên áo có số 336 và chữ balance; 01 áo sơ mi dài tay sọc ka rô đen trắng đỏ; 01 áo khoác dài tay màu xanh đen; 01 nón kết vải màu xám trên nón có chữ Gucci; 01 áo sơ mi tay dài màu trắng.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda loại Winner X, màu bạc đỏ đen, số khung: 3709KY025782, số máy: KC34E1053602, gắn biển số 95H1-534.22 là xe của ông Trương Thanh T; 01 xe mô tô hiệu Honda loại Future FI, màu đỏ đen, số khung: 7634JZ105756, số máy: JC76E0452445, gắn biển số 66M1-487.94 là xe của bà Nguyễn Thị Thúy N, ông Trần Vũ L thì Cơ quan cảnh sát điều tra quận Bình Thủy đã ra quyết định trả lại cho các bị hại theo Quyết định số 42/QĐ-ĐCSHS ngày 17/10/2023 và các biên bản về việc trả lại tài sản ngày 17/10/2023 là phù hợp

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda loại LEAD, màu trắng, số khung: LWBTDH10271036880, số máy: WH150MH07K02049, gắn biển số 65E1-064.26 đứng tên bà Lâm Hồng Anh là tài sản bị mất trộm trong vụ án hình sự do Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Thốt Nốt đang giải quyết, Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Bình Thủy đã bàn giao xe cho công an quận Thốt Nốt để giải quyết nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/9/2023.

Hình phạt bổ sung: Không.

2. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái A phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái A 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/9/2023.

Hình phạt bổ sung: Không.

3. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Kiều Ngọc G phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Kiều Ngọc G 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Hình phạt bổ sung: Không.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015(Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy các tang vật gồm:

- 01 cục hình chữ nhật màu đen, kèm theo cục sạc;

- 02 đoản bằng kim loại màu trắng;

- 01 cục khóa từ bằng kim loại màu vàng;

- 01 điếu bằng kim loại màu trắng hình chữ L;

- 01 cây kìm bấm kim loại màu trắng, trên thA kìm có dòng chữ Konda-Pro;

- 01 điện thoại di động không rõ nhãn hiệu, không có bàn phím và vỏ bên ngoài số Imei: 810221600630414 có một sim không rõ số thuê bao;

- 01 nón bảo hiểm màu đen, trên nón có chữ “nón sơn”;

- 01 nón bảo hiểm màu trắng sữa loại nón lưỡi trai trên nón có chữ LV;

- 01 áo khoác tay dài màu đen loại có mũ trùm đầu trên áo có số 336 và chữ balance;

- 01 áo sơ mi dài tay sọc ka rô đen trắng đỏ;

- 01 áo khoác dài tay màu xanh đen;

- 01 nón kết vải màu xám trên nón có chữ Gucci;

- 01 áo sơ mi tay dài màu trắng.

(Các vật chứng đang bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dA sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ theo Quyết định chuyển vật chứng số 02/QĐ-VKSBT-HS ngày 22/12/2023 và biên bản giao nhận ngày 02/01/2024).

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda loại Winner X, màu bạc đỏ đen, số khung: 3709KY025782, số máy: KC34E1053602, gắn biển số 95H1-534.22; 01 xe mô tô hiệu Honda loại Future FI, màu đỏ đen, số khung: 7634JZ105756, số máy: JC76E0452445, gắn biển số 66M1-487.94: Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Bình Thủy đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản cho bị hại (Theo Quyết định số 42/QĐ-ĐCSHS ngày 17/10/2023 và các biên bản về việc trả lại tài sản ngày 17/10/2023)

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda loại LEAD, màu trắng, số khung: LWBTDH10271036880, số máy: WH150MH07K02049, gắn biển số 65E1-064.26: Công an quận Bình Thủy đã bàn giao cho công an quận Thốt Nốt để giải quyết trong vụ án khác nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này (Theo biên bản bàn giao ngày 21/12/2023).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị cáo và bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ