vanban.org

Bản án 07/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 04/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Tr 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024. Về vật chứng: Áp dụng Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục quản lý lưu giữ đĩa DVD-R, dung lượng 4.7GB, trên đĩa có chữ maxell vào hồ sơ vụ án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HS-ST
Ngày 04 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Diêu Hoàng Tiếp

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

Bà Trang Thị Cẩm Nhuần

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Nhi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Linh - Kiểm sát viên.

- Công chức hỗ trợ phiên tòa trực tuyến: Ông Đặng Văn Thi và ông Huỳnh Minh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần và điểm cầu thành phần tại Công an huyện Tiểu Cần, Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn Tr, sinh ngày 01/01/1990, tại huyện C, tỉnh T;

Nơi cư trú: Ấp L, xã T, huyện C, tỉnh T; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Á (chết) và bà Trần Thị S; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo Phạm Văn Tr bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 16/9/2024 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Tiểu cần (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

- Huỳnh Hữu X, sinh năm 1978 (có mặt);

Trú tại: Ấp P, xã H, huyện T, tỉnh T.

Người làm chứng:

- Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1950 (có đơn xin giải quyết vắng mặt);

- Anh Lê Trung Ngh, sinh năm 1982 (vắng mặt);

Cùng trú tại: Ấp P, xã H, huyện T, tỉnh T.

- Chị Trương Thị Ngọc Ph, sinh năm 2000 (có đơn xin giải quyết vắng mặt);

Trú tại: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/4/2024, bị cáo Phạm Văn Tr một mình điều khiển xe mô tô từ nhà đi đến tiệm vàng Hữu X thuộc ấp Phú Thọ II, xã Hiếu Trung, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh để bán nhẫn vàng lấy tiền giải quyết công việc cá nhân. Trong quá trình giao dịch bị cáo có lời lẻ khiếm nhã nên các bên không thực hiện việc mua bán. Sau đó bị cáo điều khiển xe chạy đi một đoạn khoảng 15m rồi đi bộ đến chổ ông X rồi dùng tay phải đấm thẳng vào mặt của ông X 01 (một) cái trúng vào vùng mũi làm ông X bị chảy máu và té ngã xuống mặt lộ trước nhà. Sau đó, ông X đứng dậy ôm bị cáo giằng co qua lại với bị cáo Tr nhưng chưa đánh và gây thương tích cho nhau thì ông Ngh cùng người dân gần đó can ngăn. Sau đó, ông X được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh điều trị, chẩn đoán vỡ xương mũi/chấn thương đầu. Bị cáo Tr không bị thương tích gì.

Ngày 08/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần ra Quyết định trưng cầu giám định để xác định tỷ lệ thương tật, cơ chế hình thành vết thương và thương tích trên cơ thể của ông Huỳnh Hữu X do vật gì gây ra. Kết luận giám định số: 209/2024/KLTTCT-TTPY ngày 11/7/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế Trà Vinh kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Huỳnh Hữu X tại thời điểm giám định là 10% (mười phần trăm); Cơ chế hình thành vết thương do ngoại lực tác động trực tiếp hướng từ trước ra sau; Vật gây ra thương tích là vật tày cứng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Văn Tr thừa nhận hành vi cố ý gấy thương tích của của mình như cáo trạng đã nêu.

Tại cáo trạng số: 47/CT-VKSTC-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần đã truy tố bị cáo.

Vị đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, sau khi phân tích hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vụ án như sau: Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Xử phạt bị cáo Tr từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục quản lý lưu giữ đĩa DVD-R, dung lượng 4.7GB, trên đĩa có chữ maxell vào hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu cầu bị cáo bồi thường nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị hại ông Huỳnh Hữu X trình bày: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo có đến thăm hỏi, về trách nhiệm dân sự ông không yêu cầu bị cáo bồi thường, về trách nhiệm hình sự ông đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tham gia tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người làm chứng tuy nhiên tất cả những người này đều đã có lời khai và lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận vào Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/4/2024, bị cáo Phạm Văn Tr đi đến tiệm vàng Hữu X để bán chiếc nhẫn vàng trong quá trình mua bán bị cáo tức giận về việc bị hại không mua vàng nên bị cáo dùng tay phải đấm thẳng vào mặt của bị hại làm gãy xương mũi với tỷ lệ thương tật 10%. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, dữ liệu điện tử, kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Cho nên Cáo trạng số: 47/CT-VKSTC-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng nhưng trong quá trình trao đổi giao dịch mua bán vàng với bị hại, bị cáo đã có lời nói khiếm nhã và có hành vi dùng tay đấm gãy mũi gây thiệt hại đến sức khỏe cho bị hại, mặc dù bị hại chưa có lời nói hay hành động gì gây tác động xấu cho bị cáo. Giữa bị cáo và bị hại không có quen biết trước, không có mâu thuẫn hay hiềm khích trước với nhau. Thể hiện bị cáo là người có hành động coi thường pháp luật, sẵn sàng dùng vũ lực và thích (hay) dùng vũ lực để uy hiếp người khác phải khuất phục mình, vô cớ đánh người khác. Từ đó thấy được hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ của bị cáo nên cần xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách hình sự, bị cáo không có tiền án, tiền sự; nhân thân: Tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có trình độ học vấn thấp nhận thức pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, mức độ phạm tội của bị cáo để ra một bản án cho bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo là người thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình gây ra sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của bị hại. Mặc dù giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì bị cáo vẫn cố ý gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng đến xã hội. Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định và tương xứng với tính chất, hành vi của bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội và đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Hội đồng xét xử đã thẩm tra về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục quản lý lưu giữ đĩa DVD-R, dung lượng 4.7GB, trên đĩa có chữ maxell vào hồ sơ vụ án vì nội dung đĩa ghi lại hành vi phạm tội của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và các chứng cứ khác quan có trong hồ sơ vụ án nên được chấp nhận.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 134; điểm I, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Tr 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục quản lý lưu giữ đĩa DVD-R, dung lượng 4.7GB, trên đĩa có chữ maxell vào hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Văn Tr phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để xin xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ