vanban.org

Bản án 07/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Đông, TP. Huế Tuyên án 10/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1, Trần Tú T phạm tội “Trộm cắp T sản”.

Xử phạt các bị cáo Trần Văn Đ1, Trần Tú T mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ và đp phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1, Trần Tú T phạm tội “Trộm cắp T sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN Nh DÂN
HUYÊN NĐ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HS-ST
Ngay 10-5-2024
Nh DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM

TÒA ÁN Nh DÂN HUYÊN NĐ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.

Các Hội thẩm Nh dân: Ông Vương Văn Vui va ông Phan Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Ba Ngô Thị Ngọc Trinh, Thư ký Tòa án Nh dân huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê.

- Đai diên Viên kiểm sát Nh dân huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Kiêm sát viên.

Ngay 10 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án Nh dân huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2024/TLST-HS ngay 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyêt định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2024/QĐXXST-HS ngay 25 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn Đ (tên gọi khác: Không); sinh ngay 24 tháng 4 năm 1998, tại: tinh Thưa Thiên Huê; nơi thường trú: Xã HH, NĐ, tinh Thưa Thiên Huê; nghề nghiêp: Lam nông; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Cơ Tu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Viêt Nam; căn cước công dân số: 046098001xxx, cấp ngay: 14/8/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hanh chính về trật tự xã hội; con ông: Trần Văn Đ1, sinh năm 1977 va ba Hồ Thị Tr, sinh năm 1976; có vợ la Trần Thị Dữ, sinh năm: 2001 va 01 người con (sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biên pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tư ngay 09/01/2024 cho đên nay. Có mặt.

2. Trần Văn Đ1 (tên gọi khác: Không); sinh ngay 16 tháng 7 năm 1977, tại: tinh Thưa Thiên Huê; nơi thường trú: Xã HH, NĐ, tinh Thưa Thiên Huê; nghề nghiêp: Lam nông; trình độ học vấn: Không biêt chữ; dân tộc: Cơ Tu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Viêt Nam; căn cước công dân số: 046077006xxx, cấp ngay: 05/12/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hanh chính về trật tự xã hội; con ông: Trần Văn Thắng (đã chêt) va ba Hồ Thị Lương, sinh năm 1943; có vợ la Hồ Thị Tr, sinh năm: 1976 va 02 người con (con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biên pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tư ngay 09/01/2024 cho đên nay. Có mặt.

3. Trần Tú T (tên gọi khác: Không); sinh ngay 22 tháng 5 năm 2003, tại: tinh Thưa Thiên Huê; nơi thường trú: Xã HH, NĐ, tinh Thưa Thiên Huê; nghề nghiêp: Lam nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Cơ Tu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Viêt Nam; căn cước công dân số: 046203002251, cấp ngay: 28/11/2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hanh chính về trật tự xã hội; con ông: Trần Văn Chao, sinh năm 1977 va ba Trần Thị Thâm, sinh năm 1978; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biên pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tư ngay 09/01/2024 cho đên nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Đ: Ba Trần Thị Quỳnh Phượng, Trợ giúp viên pháp lý của Tr tâm trợ giúp pháp lý nha nước tinh Thưa Thiên Huê. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Đ1: Ba Nguyễn Thị Sương, Trợ giúp viên pháp lý của Tr tâm trợ giúp pháp lý nha nước tinh Thưa Thiên Huê. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Tú T: Ba Huỳnh Thị Ngọc Trinh, Trợ giúp viên pháp lý của Tr tâm trợ giúp pháp lý nha nước tinh Thưa Thiên Huê. Có mặt.

- Bị hại: Công ty Trách nhiêm hữu hạn Thạch Phú Hưng (viêt tắt: Công ty Thạch Phú Hưng); Địa chi trụ sở chính: Thôn 4, xã Hương Hữu, huyên NĐ, Tinh Thưa Thiên Huê; Người đại diên theo pháp luật: Ông Đặng Quốc Tr, chức vụ: Giám đốc.

Đại diên theo ủy quyền: Ba Đặng Thị Mỹ Nh, sinh năm: 1987; nơi thường trú: TDP1, KT, NĐ, Tinh Thưa Thiên Huê (theo giấy ủy quyền ngay 15/12/2023); nghề nghiêp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đ vụ án: Ông Cung Trọng T1, sinh năm: 1959; nơi thường trú: Xã TL, NĐ, Tinh Thưa Thiên Huê. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Trần Văn N, sinh năm: 1985; nơi thường trú: Xã TL, NĐ, Tinh Thưa Thiên Huê. Vắng mặt.

2. Anh Đặng Quốc B, sinh năm: 1985; nơi thường trú: Xã HX, NĐ, Tinh Thưa Thiên Huê. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liêu có trong hồ sơ vụ án va diễn biên tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ, ngay 26/10/2023 Trần Văn Đ, sinh năm: 1998 cùng với Trần Tú T, sinh năm: 2003 ngồi ăn uống tại nha của ông Phạm Văn Nam, ở Xã HH, NĐ, tinh Thưa Thiên Huê. Trong lúc ăn uống Đ có nói với T “đi chơi lô tô không”, T trả lời “không đi vì không có tiền”. Đ khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngay thì Đ nghi va đi về nha của mình. Lúc nay Đ nảy sinh ý định trộm cắp T sản tại Công ty Thạch Phú Hưng, ở Xã HH, NĐ, tinh Thưa Thiên Huê (do anh Đặng Quốc Tr, sinh năm: 1978, trú tại: Xã HX, NĐ lam chủ) đê bán lấy tiền tiêu xai. Đ thấy Trần Tú T đang đi bộ về phía nha của mình nên gọi lại va rủ T cùng đi lấy trộm T sản thì T đồng ý. Sau đó, Đ rủ ông Trần Văn Đ1 (sinh năm: 1977, la bố ruột của Đ) đi lấy trộm T sản thì Đ1 đồng ý.

Đ khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngay, Trần Văn Đ điều khiên xe mô tô (không có biên kiêm soát) còn Trần Văn Đ1 va Trần Tú T đi bộ Đ Công ty Thạch Phú Hưng. Lúc nay, thấy không có người trông coi nên Đ cùng với Đ1 va T đã lén lút khiêng một bánh chạy Idler bằng kim loại sắt đặt lên yên xe mô tô rồi Đ chở tới cửa hang thu mua phê liêu của ông Cung Trọng T1 (sinh năm: 1959), ở Xã TL, NĐ, tinh Thưa Thiên Huê cân được 160kg va bán cho ông T1 với số tiền 1.150.000 đồng. Số tiền nay Đ chia cho Đ1 200.000 đồng, chia cho T 200.000 đồng, còn lại 750.000 đồng giữ lại tiều xai cá Nh.

Ngay 27/10/2023, anh Đặng Quốc B (sinh năm: 1985, em ruột anh Đặng Quốc Tr) Đ Công ty Thạch Phú Hưng phát hiên bị mất 01 bánh chạy Idler, hình tròn, lam bằng kim loại sắt nên đã trình báo Cơ quan Công an đê điều tra lam rõ. Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1 va Trần Tú T đã khai báo hanh vi phạm tội của mình.

* Vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tinh Thưa Thiên Huê đã thu giữ gồm:

- 01 (Một) bánh chạy Idler lam bằng kim loại sắt, có hình tròn, trọng lượng 160kg, đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tinh Thưa Thiên Huê đã xử lý vật chứng trả lại cho ba Đặng Thị Mỹ Nh (la người đại diên theo ủy quyền của công ty Thạch Phú Hưng).

- 01 (Một) xe mô tô đã độ chê, lốc máy bên trái có dòng chữ “LANDA” bên phải có dòng chữ “HONDA”, số máy VLF1P52FMH3 70390881, không rõ số khung, không có Biên kiêm soát. Căn cứ kêt quả trả lời xác minh thì xe mô tô đứng tên chủ sở hữu la anh Trần Văn N, sinh năm 1985, trú tại: Xã TL, NĐ, tinh Thưa Thiên Huê. Anh N khai nhận đã cho Trần Văn Đ chiêc xe mô tô trên vao năm 2022 (Hiên xe mô tô đang tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hanh án dân sự huyên NĐ tinh Thưa Thiên Huê).

* Tại bản Kêt luận định giá T sản số: 4451/KL - HĐĐGTS, ngay 07/12/2023 của Hội đồng định giá T sản trong tố tụng hình sự tinh Thưa Thiên Huê kêt luận: 01 (Một) bánh chạy Idler lam bằng kim loại sắt, có hình tròn, trọng lượng 160kg, tại thời điêm ngay 26/10/2023, trị giá la: 3.200.000 đồng (Ba triêu hai trăm nghìn đồng).

* Về trách nhiêm dân sự: Ba Đặng Thị Mỹ Nh la người đại diên theo ủy quyền của Công ty Thạch Phú Hưng đã nhận lại T sản va không có yêu cầu bồi thường về dân sự đồng thời đã lam đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; người có quyền lợi va nghĩa vụ liên quan la ông Cung Trọng T1 đã được Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1 va Trần Tú T trả lại số tiền 1.150.000 đồng va không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSNĐ ngay 26/3/2024 của Viên kiêm sát Nh dân huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê truy tố các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1 va Trần Tú T về tội “Trộm cắp tai sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đôi, bô sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diên Viên kiêm sát thực hanh quyền công tố phát biêu quan điêm luận tội giữ nguyên quyêt định truy tố va đề nghị:

- Về hình sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điêm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 đê xử phạt:

Bị cáo Trần Văn Đ tư 09 tháng Đ 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Bị cáo Trần Văn Đ1, Trần Tú T mỗi bị cáo tư 06 tháng Đ 08 tháng cải tạo không giam giữ.

- Về khấu trư thu nhập va hình phạt bô sung: Các bị cáo la người dân tộc thiêu số, sinh sống tại địa ban có điều kiên kinh tê xã hội đặc biêt khó khăn, do đó đề nghị không áp dụng.

- Về trách nhiêm dân sự: Đại diên bị hại, người có quyền lợi va nghĩa vụ liên quan Đ vụ án ông Cung Trọng T1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Đối với chiêc xe mô tô đã độ chê, lốc máy bên trái có dòng chữ “LANDA” bên phải có dòng chữ “HONDA”, số máy VLF1P52FMH3 70390881, không rõ số khung, không có Biên kiêm soát. Đây la xe của bị cáo Trần Văn Đ dùng đê chở T sản đi bán. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu, sung công quỹ nha nước.

- Về án phí: Các bị cáo có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị áp dụng điêm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyêt số 326/2016/UBTVQH14 ngay 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý va sử dụng án phí va lê phí Tòa án đê miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, những người bao chữa trình bay lời bao chữa cho bị cáo Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1, Trần Tú T: Hanh vi của các bị cáo bị truy tố xét xử về tội “Trộm cắp T sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 la đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, khi quyêt định hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng những tình tiêt giảm nhẹ trách nhiêm hình sự: Các bị cáo thanh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu va thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiêt hại không lớn; đại diên bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo la người đồng bao dân tộc thiêu số Cơ Tu, hiên đang sinh sống nơi có điều kiên kinh tê-xã hội đặc biêt khó khăn. Ngoai ra, gia đình của bị cáo Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1 có công với cách mạng. Đây la những tình tiêt giảm nhẹ trách nhiêm hình sự quy định tại điêm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Với những tình tiêt giảm nhẹ nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự xem xét cho các bị cáo được hưởng cải tạo không giam giữ, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ tư 06 tháng Đ 09 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo Trần Văn Đ1 06 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo Trần Tú T 06 tháng cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng răn đe va phòng ngưa chung cho xã hội; Về khấu trư thu nhập va hình phạt bô sung: Do các bị cáo la người đồng bao dân tộc thiêu số, không có công viêc ôn định, sinh sống tại nơi có điều kiên kinh tê khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng; Về án phí: Các bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí va đã có đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toan bộ hanh vi phạm tội của mình, đồng ý với kêt luận định giá T sản của cơ quan chuyên môn va tội danh ma Viên kiêm sát đã truy tố theo như bản Cáo trạng va quan điêm luận tội. Các bị cáo đồng ý với lời bao chữa của người bao chữa va không có ý kiên tranh luận về hanh vi, tội danh, hình phạt va các vấn đề khác.

Nói lời sau cùng tại phiên tòa, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vao các T liêu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyêt định, hanh vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố va tại phiên tòa bị cáo, bị hại va người tham gia tố tụng khác không có ý kiên hay khiêu nại gì về quyêt định, hanh vi tố tụng của cơ quan tiên hanh tố tụng, người có thẩm quyền tiên hanh tố tụng. Các quyêt định, hanh vi tố tụng đã thực hiên đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định. Do đó, các quyêt định, hanh vi tố tụng của cơ quan tiên hanh tố tụng va người tiên hanh tố tụng la hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng trong vụ án la đại diên của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đ vụ án va người lam chứng vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra, không gây trở ngại cho viêc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiên hanh xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hanh vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo đã thưa nhận hanh vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đ vụ án, người lam chứng va các chứng cứ, T liêu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Lợi dụng sơ hở trong quản lý T sản của chủ sở hữu, khoảng 19 giờ 15 phút, ngay 26/10/2023, tại Xã HH, NĐ, tinh Thưa Thiên Huê. Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1 va Trần Tú T đã có hanh vi trộm cắp một bánh chạy Idler lam bằng kim loại sắt, có hình tròn, trọng lượng 160kg của Công ty Trách nhiêm hữu hạn Thạch Phú Hưng, trị giá 3.200.000 đồng (Ba triêu hai trăm nghìn đồng). Do đó, hanh vi của các bị cáo đã đủ yêu tố cấu thanh tội “Trộm cắp T sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đôi, bô sung năm 2017). Cáo trạng của Viên kiêm sát Nh dân huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê va lời buộc tội của Kiêm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo la có căn cứ, đúng người, đúng tội va phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, vai trò, mức độ hanh vi phạm tội của các bị cáo:

Xét về tính chất vụ án: Đây la vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, không có cấu kêt chặt chẽ, hanh vi trộm cắp của các bị cáo đã trực tiêp xâm phạm Đ quyền sở hữu T sản của công dân được pháp luật bảo vê, hanh vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiêm cho xã hội, xâm phạm Đ an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân các bị cáo la người có năng lực trách nhiêm hình sự, nhận biêt được hanh vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát tư động cơ vụ lợi, muốn hưởng thụ trên thanh quả lao động của người khác nên đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đê lén lút chiêm đoạt T sản nhằm thu lợi bất chính, phục vụ nhu cầu bản thân, gây bức xúc, lo lắng cho Nh dân.

Xét về vai trò của tưng bị cáo: Đối với bị cáo Trần Văn Đ la người chủ động, tích cực thực hiên hanh vi trộm cắp, bị cáo la người rủ rê người khác phạm tội va hưởng phần thu lợi bất chính nhiều hơn so với các bị cáo khác, xét về vai trò la thứ nhất; đối với bị cáo Trần Văn Đ1 va Trần Tú T la người bị rủ rê, tích cực thực hiên hanh vi phạm tội vai trò thứ hai.

Về Nh thân, tình tiêt tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiêm hình sự:

- Về Nh thân: Các bị cáo có Nh thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiêt tăng nặng: Các bị cáo không phạm vao tình tiêt tăng nặng nao.

- Về tình tiêt giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố va tại phiên tòa, các bị cáo đã thanh khẩn khai báo về hanh vi của mình, ăn năn hối cải; các bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiêt hại không lớn được quy định tại các điêm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đại diên bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo la người đồng bao dân tộc thiêu số Cơ Tu, hiên đang sinh sống nơi có điều kiên kinh tê-xã hội đặc biêt khó khăn. Ngoai ra, gia đình của bị cáo Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1 có công với cách mạng. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng các tình tiêt giảm nhẹ trách nhiêm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vao tính chất, vai trò, mức độ hanh vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiêt giảm nhẹ, không phạm tình tiêt tăng nặng, tất cả các bị cáo đều có nơi cư trú rõ rang, ngoai lần phạm tội nay thì các bị cáo chấp hanh pháp luật va thực hiên đầy đủ các nghĩa vụ công dân nơi cư trú; các bị cáo có Nh thân tốt. Vì vậy, không cần thiêt phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo ma áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo cải tạo không giam giữ, giao cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú va gia đình của các bị cáo quản lý giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe phòng ngưa, giúp các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật va yên tâm cải tạo. Tuy nhiên, bị cáo Trần Văn Đ la người chủ động, tích cực thực hiên hanh vi phạm tội, hưởng phần thu lợi bất chính nhiều hơn nên mức phạt của bị cáo cao hơn mức phạt của bị cáo Trần Văn Đ1, Trần Tú T.

Về khấu trư thu nhập va hình phạt bô sung: Các bị cáo la người dân tộc thiêu số, sinh sống nơi có điều kiên kinh tê-xã hội đặc biêt khó khăn, công viêc va thu nhập không ôn định nên miễn khấu trư thu nhập va không áp dụng hình phạt bô sung la phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với ông Cung Trọng T1 la người mua T sản do các bị cáo trộm cắp ma có; anh Trần Văn N la người đứng tên đăng ký sở hữu chiêc xe mô tô ma Trần Văn Đ sử dụng lam phương tiên phạm tội. Quá trình điều tra đã lam rõ, ông T1 không có hứa hẹn gì tư trước với các bị cáo về viêc tiêu thụ T sản trộm cắp cũng như không biêt T sản do phạm tội ma có; anh N đã cho Trần Văn Đ chiêc xe mô tô vao năm 2022 va cũng không biêt viêc bị cáo Đ sử dụng lam phương tiên đê đi trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tinh Thưa Thiên Huê không đề cập xử lý la có căn cứ.

Về trách nhiêm dân sự: Đại diên bị hại; người có quyền lợi va nghĩa vụ liên quan Đ vụ án ông Cung Trọng T1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyêt.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiêc xe mô tô đã độ chê, lốc máy bên trái có dòng chữ “LANDA” bên phải có dòng chữ “HONDA”, số máy VLF1P52FMH3 70390881, không rõ số khung, không có Biên kiêm soát. Căn cứ kêt quả trả lời xác minh thì xe mô tô đứng tên chủ sở hữu la anh Trần Văn N, anh N khai nhận đã cho bị cáo Trần Văn Đ chiêc xe mô tô vao năm 2022. Xét thấy, đây la T sản của bị cáo Đ sử dụng lam phương tiên phạm tội trộm cắp nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự va Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, nộp ngân sách nha nước.

Về án phí: Các bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm va đã có đơn xin miễn án phí hình sự theo khoản 1 Điều 12, Điều 14 va Điều 15 Nghị quyêt số 326/2016/UBTVQH14 ngay 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý va sử dụng án phí va lê phí Tòa án.

Về đề nghị của đại diên Viên kiêm sát, người bao chữa đã thống nhất về tội danh, hình phạt, các tình tiêt tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiêm hình sự cho bị cáo phù hợp với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vao khoản 1 Điều 173; điêm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đôi, bô sung năm 2017).

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1, Trần Tú T phạm tội “Trộm cắp T sản”.

Xử phạt các bị cáo Trần Văn Đ1, Trần Tú T mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1 va Trần Tú T tính tư ngay cơ quan thi hanh án hình sự Công an huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê nhận được Bản án va Quyêt định thi hanh án hình sự.

Giao các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1 va Trần Tú T cho Uỷ ban Nh dân xã Hương Hữu, huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê có trách nhiêm giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời hạn cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiêm phối hợp với Uỷ ban Nh dân xã Hương Hữu, huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê trong viêc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú thì thực hiên theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hanh án hình sự.

2. Về khấu trư thu nhập va hình phạt bô sung: Miễn khấu trư thu nhập va không áp dụng hình phạt bô sung cho các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Văn Đ1 va Trần Tú T.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điêm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điêm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, sung công quỹ nha nước: 01 (một) chiêc xe mô tô đã độ chê, lốc máy bên trái có dòng chữ “LANDA” bên phải có dòng chữ “HONDA”, số máy VLF1P52FMH3 70390881, không rõ số khung, không có Biên kiêm soát.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế và Chi cục Thi hành án dân sự huyện NĐ)

4. Về án phí: Căn cứ theo điêm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 14 va Điều 15 Nghị quyêt số 326/2016/UBTVQH14 ngay 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý va sử dụng án phí va lê phí Tòa án, các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án nay trong thời hạn 15 ngay, kê tư ngay tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi va nghĩa vụ liên quan Đ vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án nay trong thời hạn 15 ngay, kê tư ngay nhận được bản án hoặc ngay bản án được niêm yêt theo quy định.

Trường hợp bản án, quyêt định nay được thi hanh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hanh án dân sự thì người được thi hanh án dân sự, người phải thi hanh án dân sự có quyền thoả thuận thi hanh án, quyền yêu cầu thi hanh án, tự nguyên thi hanh án hoặc bị cưỡng chê thi hanh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b va 9 Luật Thi hanh án dân sự; thời hiêu thi hanh án được thực hiên theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hanh án dân sự.

Cỡ chữ