- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà văn T, Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07 /2024/HS-ST Ngày 28 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò văn Khẹt và bà Quàng Thị Hoả;
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Cà Văn T, sinh 01/01/1990; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản B, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Đảng phái: không; con ông Cà Văn L, sinh 1951 và bà Tòng Thị T, sinh 1957; vợ Quàng Thị T, sinh 1996 và 02 con, con lớn nhất sinh 2016, con nhỏ nhất sinh 2018; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Đỗ Văn Thuận, là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La; có mặt.
- Người làm chứng: Cà Văn G, sinh năm 2006, nơi cư trú: Bản B, x T, huyện M, tỉnh Sơn La; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 05 phút, ngày 26/6/2024 Cà Văn G đi bộ đến nhà Cà Văn T; G hỏi Thâm “có ma tuý bán không? Bán cho 200.000VNĐ”, T lấy 01 gói nilon màu trắng bên trong có cục bột màu trắng đưa cho G và nhận tiền thì bị Tổ công tác Công an xã T phát hiện, Cà Văn G đ giao nộp gói nilon màu trắng và khai nhận đó là gói ma tuý vừa mua được của T; T đ giao nộp số tiền 200.000VNĐ. Tổ công tác đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, dẫn giải về Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện M để điều tra theo thẩm quyền. Cùng ngày tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Thâm nhưng không thu giữ gì thêm.
Cà Văn T khai nhận về nguồn gốc ma tuý có được từ ngày 20/6/2024, T đi bộ đến bản C, xã M gặp và mua ma tuý của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ với số tiền 100.000VNĐ về sử dụng và bán cho Cà Văn G được 200.000VNĐ, phù hợp với lời khai của Giang.
Ngày 10/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong cân tịnh tách bì, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định tang vật thu giữ khi bắt quả tang Cà Văn T và Cà Văn G, như sau: Cục bột màu trắng trong gói nilon màu trắng có khối lượng là 0,02 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu TG; còn lại 01 mảnh nilon màu trắng niêm phong lưu kho vật chứng theo quy định.
Ngày 26/6/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện thực hiện trưng cầu giám định số tiền 200.000VNĐ thu giữ của Cà Văn T.
Ngày 01/7/2024 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có Kết luận giám định số 1388/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu TG là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,02 gam; tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,02 gam; loại Heroine”.
Ngày 02/7/2024 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có kết luận giám định số 1402/KL-KTHS, Kết luận: Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật.
Tiến hành xác minh nhân thân của Cà Văn G, xác định: G chưa có tiền án, tiền sự, khối lượng ma tuý không đủ cấu thành; Cơ quan chức năng đ áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính. Thực hiện điều tra, xác minh đối với người bán trái phép chất ma túy cho Cà Văn T nhưng không thu thập được tài liệu khác ngoài lời khai của bị cáo.
Bản cáo trạng số 126/CT-VKS-ML ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Cà Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố bị cáo Cà Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cà Văn T từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu và tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000VNĐ; áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn tiền án phí cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo T tranh luận: đồng ý với nội dung cáo trạng và lời khai bị cáo đ trình bày; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, hiểu biết về đời sống x hội và pháp luật hạn chế, phạm tội lần đầu; bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, hộ nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; giảm nhẹ cho bị cáo hưởng mức phạt 24 tháng, không phạt bổ sung với bị cáo; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn tiền án phí cho bị cáo; nội dung khác nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đối đáp tranh luận đều giữ nguyên ý kiến tranh luận; Bị cáo không bổ sung bào chữa, tranh luận; bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đ được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện là hợp pháp.
Người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử thấy lời khai có trong hồ sơ đ rõ nên quyết định xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về chứng cứ xác đinh hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đ được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định: Khoảng 14 giờ 05 phút, ngày 26/6/2024 Cà Văn G đến nhà Cà Văn T, hỏi mua ma tuý, T đưa cho G 01 gói nilon màu trắng bên trong có chất bột màu trắng và nhận số tiền 200.000VNĐ, thì bị Tổ công tác Công an xã T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Tại kết luận giám định số 1388/KL-KTHS, ngày 01/7/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu TG là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,02 gam; tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,02 gam; loại Heroine”. Như vậy, Cà Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đ cố ý trực tiếp thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Cà Văn G để kiếm lời là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Cà Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Về tính chất mức độ của hành vi: bị cáo đ được tuyên truyền, vận động, cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý nhưng ý thức coi thường kỷ cương x hội, pháp luật của Nhà nước, nhằm mục đích tư lợi cá nhân, kiếm lời dễ dàng bị cáo đ thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, đ xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; với lỗi cố ý trực tiếp bị cáo đ cất giữ và bán trái phép chất ma túy cho G; tội phạm bị cáo thực hiện đ hoàn thành, hành vi phạm tội nghiêm trọng, không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất của con người, suy giảm khả năng lao động mà còn ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn x hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư, nhân thân: Bị cáo thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (chấp hành tốt nội quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt). Do đó, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiếu số, sống ở vùng sâu, xa, vùng ba, nhận thức pháp luật hạn chế, cần xem xét giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho x hội nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (phiếu xét nghiệm dương tính (+) với ma túy), chính quyền địa phương xác định bị cáo chưa chấp hành quy định của địa phương, bị cáo không có khả năng tự cải tạo.
Về hình phạt: Từ những phân tích và nhận định trên, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly ra ngoài x hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho x hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: không có tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 26/6/2024 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Đối với Cà Văn G là người mua trái phép 0,02 gam Heroine của T, đang cất giữ thì bị bắt quả tang, nhưng G chưa có tiền án, tiền sự, khối lượng ma tuý không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan chức năng đ áp dụng biện xử phạt hành chính.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đ lấy mẫu giám định 0,02 gam; loại Heroine, không hoàn lại mẫu giám định nên không có cơ sở xử lý.
Hiện đang lưu kho vật chứng: 01 mảnh nilon màu trắng là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 200.000VNĐ là số tiền do Cà Văn T phạm tội mà có nên cần phải tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, hộ nghèo; bị cáo và người bào chữa cho bị cáo xin miễn nộp tiền án phí; theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Cà Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (26/6/2024); không phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng của Cà Văn T.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000VNĐ của Cà Văn T (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M).
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/10/2024).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện M; - CA h.M (Bộ phận Hồ sơ, CSĐT, THAHS, Nơi giam); - Chi cục THADS huyện M; - UBND x nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hoà |