vanban.org

Bản án 07/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An Tuyên án 22/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Hoài P1 phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Võ Hoài P1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023 . Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hoài P1 phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Hoài P1 phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 07/2024/HS-ST
Ngày: 22 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn số 05/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Hoài P1, sinh ngày 14/10/2001, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp 3, xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn M1 (chết) và bà Trần Thị M2; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện B (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Đỗ Thị Kim K, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp 2, xã Phước Lợi, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

2. Võ Hoàng P2, sinh năm 1997. Địa chỉ: Ấp 2, xã Phước Lợi, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

3. Trần Thị M2, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp 3, xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (có mặt).

- Người chứng kiến:

1. Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp 1, xã Phước Lợi, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

2. Trần Hồng Châu Nhật T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp 3A, xã Phước Lợi, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Hoài P1 và người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lý lịch) gặp và quen biết nhau khi đi uống cà phê ở khu vực Gò Đen, thuộc xã Phước Lợi, huyện B. Thành thuê P1 đi giao pháo mỗi chuyến trả công 200.000đ, do cần tiền tiêu xài nên P1 đồng ý. Ngày 24/12/2023, P1 gặp Thành ở khu vực cầu Long Khê, huyện Cần Đước, Thành nói với P1 chiều ngày 24/12/2023 đi giao pháo, P1 đồng ý. Do không có xe, P1 đi bộ đến nhà Võ Hoàng P2 mượn xe mô tô biển số 62G1-150.54, lúc này P2 không có ở nhà nên hỏi mượn Đỗ Thị Kim K (vợ P2) mượn xe đi công việc, K đồng ý. P1 điều khiển xe 62G1-150.54 đến cầu Long Khê gặp Thành, tại đây Thành giao P1 pháo hoa gồm 18 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 17cmx17cmx10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc và 300 vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa chứa nhiều màu sắc, đường kính 2,5cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh, Thành kêu P1 đi giao 08 hộp với 300 viên pháo bi thì đi giao trước cho khách ở đường liên ấp 2-3A xã Phước Lợi còn 10 hộp cất ở nhà sẽ giao sau. P1 chở 10 hộp pháo hoa về cất ở nhà ở ấp 3, xã Phước Vân, huyện Cần Đước, rồi điều khiển xe 62G1-150.54 chở 08 hộp với 300 viên pháo bi đi giao cho khách, khi đến đường liên ấp 2-3A, xã Phước Lợi bị lực lượng Công an huyện B tuần tra, kiểm tra phát hiện bắt quả tang tạm giữ gồm: xe mô tô biển số 62G1-150.54; 08 hộp pháo hoa (gồm 07 hộp pháo hoa, có xuất xứ nước ngoài made in china, mã ký hiệu “ KS4-4911L”; 01 hộp pháo hoa, có xuất xứ nước ngoài made in china, mã ký hiệu “ T4049”) và 300 viên pháo bi, hình quả bông. Qua khám xét phòng ngủ nhà P1, CQĐT tạm giữ: 10 hộp pháo hoa có xuất xứ nước ngoài made in china (gồm 06 hộp ký hiệu “KS4-4911G”; 04 hộp ký hiệu “T4049”), tổng trọng lượng 17kg.

Tại Bản kết luận giám định số 359/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phân viện KHHS tại Tp Hồ Chí Minh - Bộ Công an, kết luận:

- 18 (mười tám) khối hình hộp chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc (trong đó có 07 hộp ký hiệu KS4-4911L, 06 hộp ký hiệu KS4-4911G, 05 hộp ký hiệu T4049), bên trong mỗi khối có 49 ống gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu, trọng lượng là 31kg.

- 300 (ba trăm) vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa chứa nhiều màu sắc, đường kính 2,5cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh gửi giám định là pháo nổ. Khi đốt phát ra tiếng nổ. Tổng trọng lượng là 1,2kg.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 08/QĐ- VKSBL ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Võ Hoài P1 về tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Võ Hoài P1 hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị chủ tọa phiên tòa tuyên bố: bị cáo Võ Hoài P1 phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Hoài P1 mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Ngoài ra, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với xe môtô biển kiểm soát 62G1-150.54 loại xe Yamaha Nozza, màu trắng, số khung RLCN1DR10EY118184, số máy 1DR1118189, thuộc chủ sở hữu là Đỗ Thị Kim K, bị cáo P1 sử dụng xe trên đi giao pháo, chị K không biết, CQĐT đã trả lại xe cho K xong nên không đề nghị xem xét.

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

+ 17 (mười bảy) khối hình hộp chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc (trong đó có 07 hộp ký hiệu KS4-4911L, 06 hộp ký hiệu KS4-4911G, 04 hộp ký hiệu T4049).

+ 299 (hai trăm chín mươi chín) vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa chứa nhiều màu sắc, đường kính 2,5cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh.

Đối với người đàn ông tên Thành thuê bị cáo Võ Hoài P1 vận chuyển pháo nổ, do không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B xác minh, xử lý sau nên không đề nghị xem xét.

Đối với Đỗ Thị Kim K cho P1 mượn xe nhưng K không biết mượn xe để vận chuyển pháo, nên CQĐT không xử lý hình sự nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Võ Hoài P1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 17 giờ 15 phút ngày 24/12/2023 của Cảnh sát điều tra Công an huyện B, cùng Bản ảnh hiện trường, Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, Biên bản cân trọng lượng tang vật bị tạm giữ; Kết luận giám định số 359/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Vào ngày 24/12/2023 bị cáo Võ Hoài P1 điều khiển xe môtô 62G1-150.54 chở 08 hộp pháo hoa với 300 viên pháo bi đi giao cho khách, khi đến đường liên ấp 2-3A, xã Phước Lợi, huyện B bị lực lượng Công an huyện B tuần tra, kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Ngoài ra, qua khám xét phòng ngủ nhà bị cáo P1, CQĐT tạm giữ: 10 hộp pháo hoa. Tất cả là 18 hộp pháo hoa với 300 viên pháo bi có xuất xứ nước ngoài made in china với tổng trọng lượng 32,2kg.

Hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quy định của Nhà nước về quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế tại địa phương.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo Võ Hoài P1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” nên Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Võ Hoài P1 theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự; do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Khi quyết định hình phạt, chủ tọa phiên tòa có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Võ Hoài P1 phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Võ Hoài P1 thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo còn khai nhận cất giấu số pháo hoa tại nhà. Do đó, xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Võ Hoài P1 là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Võ Hoài P1 còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có lời trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Võ Hoài P1.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với xe môtô biển kiểm soát 62G1-150.54 loại xe Yamaha Nozza, màu trắng, số khung RLCN1DR10EY118184, số máy 1DR1118189, thuộc chủ sở hữu là Đỗ Thị Kim K, bị cáo P1 sử dụng xe trên đi giao pháo chị K không biết, CQĐT đã trả lại xe cho K xong nên không đề cập xem xét.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 17 (mười bảy) khối hình hộp chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc (trong đó có 07 hộp ký hiệu KS4-4911L, 06 hộp ký hiệu KS4-4911G, 04 hộp ký hiệu T4049).

+ 299 (hai trăm chín mươi chín) vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa chứa nhiều màu sắc, đường kính 2,5cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh.

. Đối với người đàn ông tên Thành thuê bị cáo Võ Hoài P1 vận chuyển pháo nổ, do không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B xác minh, xử lý sau nên không đề cập xem xét.

. Đối với Đỗ Thị Kim K cho P1 mượn xe nhưng K không biết mượn xe để vận chuyển pháo, nên CQĐT không xử lý hình sự nên không đề cập xem xét.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Võ Hoài P1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Võ Hoài P1 phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s, r khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Võ Hoài P1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023 .

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Võ Hoài P1 45 ngày kể từ ngày tuyên án (22/01/2024) để đảm bảo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- 17 (mười bảy) khối hình hộp chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc (trong đó có 07 hộp ký hiệu KS4-4911L, 06 hộp ký hiệu KS4-4911G, 04 hộp ký hiệu T4049).

- 299 (hai trăm chín mươi chín) vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa chứa nhiều màu sắc, đường kính 2,5cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh.

(Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23 tháng 01 năm 2024.)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Võ Hoài P1 nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ