- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Sáu - Võ Bá Thắng ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-01-2024. V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thiện và bà Trần Ngọc Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Công, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1015/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị S, sinh năm 1994; nơi đăng ký thường trú: Xóm PS, xã ĐV, huyện TC, tỉnh Nghệ An. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Bá T, sinh năm 1985; nơi đăng ký thường trú: Xóm PS, xã ĐV, huyện TC, tỉnh Nghệ An; tạm trú: X, khu phố Y, phường AP, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn là bà Đặng Thị S trình bày:
Bà Đặng Thị S và ông Võ Bá T quen biết và tự tìm hiểu nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐV, huyện TC, tỉnh Nghệ An được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2016 ngày 09/12/2018.
Sau khi kết hôn, cuộc sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không còn phù hợp, bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống không còn hạnh phúc. Do mâu thuẫn trầm trọng nên bà Đặng Thị S và ông Võ Bá T hiện nay mỗi người sống một nơi, không ai còn quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm không còn, xung đột và mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể đoàn tụ tiếp tục chung sống với nhau được nữa; bà Đặng Thị S đã từng khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Võ Bá T, nhưng do muốn hàn gắn để tiếp tục chung sống nên bà S đã rút đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân thành phố Thuận An đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 123/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23/6/2023. Tuy nhiên, sau khi bà S rút đơn khởi kiện thì tình cảm giữa bà S và ông T không có gì cải thiện mà còn trầm trọng hơn trước. Do đó, bà Đặng Thị S tiếp tục nộp đơn khởi kiện yêu cầu cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị S yêu cầu được ly hôn ông Võ Bá T.
- Về con chung: Bà Đặng Thị S và ông Võ Bá T sinh được 01 người con gái tên Võ Phương Trang, sinh ngày 29/7/2018, hiện con đang ở chung với bà S. Hiện nay, bà S mở tiệm bán thuốc tây và sản phẩm y tế tại khu phố Y, phường AP, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương có mức thu nhập hàng tháng khoảng 20 triệu đồng; bà S xác định có đủ khả năng và điều kiện nuôi con nên yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, bà S không yêu cầu ông Võ Bá T phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Võ Bá T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án, cũng không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An có ý kiến:
Về tố tụng: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không bị hạn chế các quyền khi tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng lần thứ 2 vắng mặt tại phiên tòa là tự từ bỏ quyền chứng minh, tranh tụng của mình, chứng tỏ không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát cho rằng mâu thuẫn giữa bà Đặng Thị S và ông Võ Bá T là trầm trọng thể hiện ở việc bà S đã từng khởi kiện ly hôn và hiện hai người không còn sống chung, không quan tâm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được do đó mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng là có căn cứ. Về con chung: Bà Đặng Thị S và ông Võ Bá T sinh được 01 người con chung tên Võ Phương Trang, sinh ngày 29/7/2018 hiện nay con đang sống chung với bà S. Bà S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu ông Võ Bá T cấp dưỡng nuôi con. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông T không có ý kiến gì nên đề nghị giao con cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung bà Đặng Thị S không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ông Võ Bá T là bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng lần thứ 2 vắng mặt tại phiên tòa nên đã tự từ bỏ quyền chứng minh, tranh tụng của mình; bà Đặng Thị S có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông Võ Bá T và bà Đặng Thị S.
Bà Đặng Thị S khởi kiện ly hôn, tranh chấp về con chung với ông Võ Bá T, đây là tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Võ Bá T là bị đơn hiện đang tạm trú tại phường An Phú, thành phố Thuận An nên Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị S và ông Võ Bá T tự tìm hiểu, quen biết nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐV, huyện TC, tỉnh Nghệ An được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2018 ngày 09/02/2018 đây là hôn nhân hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo trình bày của bà Đặng Thị S, sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính tình thay đổi, thường xuyên cãi vã, lâu dần làm cho cuộc sống hàng ngày căng thẳng, mệt mỏi, không có tiếng nói chung, dần dần mất tình cảm, không còn quan tâm đến nhau. Vào tháng 5 năm 2023, bà Đặng Thị S đã từng khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Võ Bá T, nhưng do muốn hàn gắn để tiếp tục chung sống nên bà S đã rút đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân thành phố Thuận An đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 123/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23/6/2023. Sau khi rút đơn khởi kiện thì tình cảm giữa hai người cũng không có cải thiện mà mâu thuẫn trầm trọng hơn. Hiện nay, bà Đặng Thị S và ông Võ Bá T không còn chung sống với nhau, không quan tâm gì đến nhau, mạnh ai nấy sống. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Võ Bá T không đến Tòa án và cũng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của bà S, điều đó cho thấy ông Võ Bá T không có mong muốn hàn gắn tình cảm với bà Đặng Thị S. Như vậy, trình bày của bà Đặng Thị S về mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng là có căn cứ.
Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà Đặng Thị S và ông Võ Bá T nhằm tạo lên một gia đình hòa thuận, hạnh phúc, vợ chồng yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau nuôi dạy con và phát triển kinh tế gia đình không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài vợ chồng không còn tình cảm, bà Đặng Thị S yêu cầu được ly hôn với ông Võ Bá T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Đặng Thị S và ông Võ Bá T sinh được 01 người con gái tên Võ Phương Trang, sinh ngày 29/7/2018, hiện nay con đang sống cùng với bà S. Sau khi ly hôn, bà Đặng Thị S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xét thấy, quá trình từ khi thụ lý vụ án đến nay Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T nhưng ông T không có mặt và cũng không có ý kiến gì về các yêu cầu khởi kiện của bà S; mặt khác, cháu Võ Phương Trang là nữ nên giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng sẽ phù hợp hơn nên yêu cầu trực tiếp nuôi con của bà S được chấp nhận.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Bà S trình bày hiện nay đang mở cửa hàng bán thuốc và các sản phẩm y tế tại khu phố 3, phường An Phú, thành phố Thuận An thu nhập hàng tháng khoảng 20 triệu đồng đủ khả năng và điều kiện nuôi con; bà S không yêu cầu ông Võ Bá T phải cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở; tuy nhiên không được lạm dụng quyền thăm con để gây cản trở, ảnh hưởng đến cuộc sống và học tập của con và người trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: Bà Đặng Thị S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các điều 68, 69, 70, 71, 72; 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị S về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Võ Bá T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị S được ly hôn ông Võ Bá T.
- Về con chung: Giao con chung tên Võ Phương Trang, sinh ngày 29/7/2018 cho bà Đặng Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; ghi nhận sự tự nguyện của bà Đặng Thị S về việc không yêu cầu ông Võ Bá T phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
2. Về án phí:
Bà Đặng Thị S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0013194 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND Tp. Thuận An; - Chi cục THADS Tp. Thuận An; - Các đương sự; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Trọng Quân |