- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị T xin ly hôn anh Trương Văn P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lê Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƢƠNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 03 - 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƢƠNG, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Thủy Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Viên Thị Minh
Ông Hà Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa:
Bà Lê Minh Hiền - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án thụ lý số 244/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/12/2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lê Thị T - sinh năm 2001 (Có mặt).
Địa chỉ: xã L, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị đơn: Anh Trương Văn P - sinh năm 1996 (Có đơn xin xét xử
vắng mặt). Địa chỉ: xã L, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 06/120/2023, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Trương Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa ngày 17/7/2019. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, anh P và gia đình coi thường chị và gia đình chị. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn P.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trương Văn Huy H, sinh ngày 09/12/2019 và Trương Văn Anh P, sinh ngày 13/01/2022. Nguyện vọng của chị T khi ly hôn là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P và giao cháu Huy H cho anh Trương Văn P trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng. Chị T và anh P không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.
- Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trương Văn P trình bày:
- Về hôn nhân: Anh Trương Văn P thừa nhận như chị T trình bày về điều kiện kết hôn, ngày tháng năm và địa điểm kết hôn là đúng. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 8 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, nên đôi khi cũng hay cãi nhau, cũng từ tháng 8 năm 2023 do chị T nói là bị bệnh và anh P đưa ra bệnh viện phụ sản trung ương Hà nội để khám, nhưng anh P cũng không biết chị T bị bệnh gì, chị T cũng không chia sẻ cho anh P biết bệnh tình của mình dẫn đến vợ chồng lại mâu thuẫn hơn. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị T có đơn xin ly hôn thì anh P không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trương Văn Huy H, sinh ngày 09/12/2019 và Trương Văn Anh P, sinh ngày 13/01/2022. Nguyện vọng của anh P muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái. Nếu phải ly hôn, anh P có nguyện vọng được trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Huy H; giao cho chị T được trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc cháu P. Chị T và anh P không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.
- Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa chị Lê Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Trương Văn P.
* Đại diện VKS phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Quá trình thiết lập hồ sơ vụ án, Thẩm phán, HĐXX và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48,49,51 Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70,71,72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ Điều 51,56,57,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Điểm b khoản 1 Điều 3; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần II Danh mục án phí Tòa án. Đề nghị HĐXX: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị T; xử cho chị T được ly hôn anh Trương Văn P. Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Trương Văn P có 02 con chung là cháu Trương Văn Huy H, sinh ngày 09/12/2019 và cháu Trương Văn Anh P, sinh ngày 13/01/2022. Giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu P; chị T và anh P không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai. Về tài sản và nợ: Chị T và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Lê Thị T khởi kiện về việc xin ly hôn với anh Trương Văn P có địa chỉ tại xã L, huyện Quảng Xương và cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu xin ly hôn. Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương thụ lý vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Bị đơn anh Trương Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, anh P có đơn xin xét xử vắng mặt. Như vậy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt anh Trương Văn P là đúng quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Trương Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn tại tại UBND xã Quảng Lưu, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa ngày 17/7/2019 là hôn nhân hợp pháp. Chị T cho rằng, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn; anh P cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị T và anh P đều thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng luôn bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp, nên hay cãi nhau. Mặt khác chị T cho rằng anh P và gia đình anh P đều coi thường chị và gia đình chị; anh P lại cho rằng chị T bị bệnh, anh có đưa đi khám nhưng chị T lại không nói cho anh biết chị T bị bệnh gì, dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng hơn. Chị T và anh P đều thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2023 đến nay không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn; anh Trương Văn P không đồng ý ly hôn, nhưng anh P lại không tìm ra các biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng; dẫn đến việc chị T vẫn không muốn quay về đoàn tụ. Vì vậy HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh P không thể hàn gắn được nữa nên chấp nhận nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Trương Văn P là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Trương Văn P có 02 con chung là cháu Trương Văn Huy H, sinh ngày 09/12/2019 và cháu Trương Văn Anh P, sinh ngày 13/01/2022.
Chị T và anh P thống nhất: Giao cho chị Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu P và giao cho anh Trương Văn P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu H; chị T và anh P không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai. Thấy rằng, thỏa thuận của chị T và anh P là tự nguyện, không trái đạo đức, không vi phạm pháp luật nên chấp nhận theo thỏa thuận của chị T và anh P là phù hợp.
Về tài sản và nợ: Chị Lê Thị T và anh Trương Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51,56,57,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Điểm b khoản 1 Điều 3; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần II Danh mục án phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lê Thị T.
Xử:
- Về hôn nhân: Chị Lê Thị T được ly hôn anh Trương Văn P.
- Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Trương Văn P có 02 con chung là cháu Trương Văn Huy H, sinh ngày 09/12/2019 và Trương Văn Anh P, sinh ngày 13/01/2022.
Giao cho chị Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Trương Văn Anh P và giao cho anh Trương Văn P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Trương Văn Huy H; chị T và anh P không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.
Chị Lê Thị T và anh Trương Văn P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.
Trường hợp có căn cứ để thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
- Về tài sản và nợ: Chị Lê Thị T và anh Trương Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/23 số 0002057 ngày 11/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Chị Lê Thị T đã nộp đủ án phí Dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt chị Lê Thị T, vắng mặt anh Trương Văn P. Chị Lê Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trương Văn P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND H Quảng Xương; - Chi cục THADS huyện Quảng Xương; -UBND xã L,H Quảng Xương - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Thị Thu Thủy |