vanban.org

Bản án 07/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Thùy T về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” với anh Hồ Xuân H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Thùy T được ly hôn anh Hồ Xuân H. Về con chung: Giao cháu Hồ Gia H1, sinh ngày 14/11/2021 cho chị Đặng Thị Thùy T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Hồ Xuân H không phải cấp dưỡng nuôi con chung Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Thùy T về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” với anh Hồ Xuân H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÔNG SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST
Ngày 07/6/2024
V/v: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Hoàng Nga

2. Bà Phan Thị Ngọc Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoàng Sa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Nông Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 03 tháng 5 năm 2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thùy T, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam;

Vắng mặt có lý do (Có đơn xin giải quyết vắng mặt ).

- Bị đơn: Anh Hồ Xuân H, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Quảng Nam;

Vắng mặt không có lý do lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/3/2024, Bản tự khai nguyên đơn chị Đặng Thị Thùy T trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Thùy T và anh Hồ Xuân H là vợ chồng hợp pháp, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 17/5/2021 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, từ đó anh H không còn thương yêu và quan tâm đến vợ con, hai vợ chồng thường xuyên cải vả. Từ tháng 8/2023 đến nay chị T và anh H không sống chung, không liên quan nhau về kinh tế. Nay cchị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Hồ Xuân H. Về con chung: Có một con chung tên: Hồ Gia H1, sinh ngày 14/11/2021. Hiện tại con đang ở cùng chị T, khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung. Nợ chung: không có.

* Bị đơn anh Hồ Xuân H: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H không hợp tác, cố tình trốn tránh và không hợp tác làm việc với Tòa án; không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mặc dù đã được Tòa án thông báo, niêm yết và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án huyện N theo quy định của pháp luật. Anh H cũng không có ý kiến về nội dung vụ án cũng như yêu cầu của mình; từ chối quyền lợi, nghĩa vụ về việc giải quyết vụ án và tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 mà không có lý do.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Sơn phát biểu ý kiến:

- Về phần thủ tục: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cố tình vắng mặt đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung vụ án:, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Đặng Thị Thùy T, cho chị T được ly hôn với anh Hồ Xuân H. Giao cho chị Đặng Thị Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Hồ Gia H1, sinh ngày 14/11/2021cho đến khi thành niên. Về cấp dưỡng: Chị Đặng Thị Thùy T không yêu cầu nên không đề nghị xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét.

- Về án phí: Chị Đặng Thị Thùy T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng: Anh Hồ Xuân H có hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện N, tỉnh Quảng Nam; chị T yêu cầu ly hôn nên quan hệ pháp luật giải quyết là tranh chấp “ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nông Sơn theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hồ Xuân H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình trốn tránh, không hợp tác để giải quyết vụ án, cả hai phiên Tòa anh H đều vắng mặt không có lý do; phía chị Đặng Thị Thùy T đã có đơn xin vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

2. Về nội dung vụ án: Chị Đặng Thị Thùy T và anh Hồ Xuân H là vợ chồng hợp pháp, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 17/5/2021 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, từ đó anh H không còn thương yêu và quan tâm đến vợ con, hai vợ chồng thường xuyên cải vả. Thực tế, từ tháng 8/2023 đến nay chị T và anh H không chung sống với nhau, không liên quan nhau về kinh tế. Nay chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Hồ Xuân H.

Tòa án đã niêm yết triệu tập nhiều lần nhưng anh H không đến Tòa do đó không tiến hành hòa giải đoàn tụ được.

Chị Đặng Thị Thùy T kiên quyết xin ly hôn, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Tuật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có một con chung là Hồ Gia H1, sinh ngày 14/11/2021. Hiện cháu H1 chưa tròn ba tuổi, là con gái và đang ở cùng chị T nên xét thấy cần giao cháu H1 cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và đảm bảo sự phát triển và quyền lợi của cháu là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Hồ Xuân H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở phù hợp với Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Đặng Thị Thùy T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Thùy T về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” với anh Hồ Xuân H.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Thùy T được ly hôn anh Hồ Xuân H.

- Về con chung: Giao cháu Hồ Gia H1, sinh ngày 14/11/2021 cho chị Đặng Thị Thùy T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Hồ Xuân H không phải cấp dưỡng nuôi con chung

Anh Hồ Xuân H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Đặng Thị Thùy T phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu số 0020273 ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Sơn.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án sơ thẩm nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo gởi lên Tòa án nhân dân Quảng Nam để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt không có lý do có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ